BUDDHA - SỰ THẬT VỀ KHỔ DO DUYÊN KHỞI

 

Sự thật về Khổ là do Duyên Khởi

Có phải Khổ do mình làm mình chịu, hay do người khác làm mình chịu?

Thấy Biết như thật Khổ. Khổ là phải thấy nó, là cái biết trực tiếp giác quan ghi nhận nó và biết nó, như vậy tức là có hai cái tâm, thấy và biết khổ.

Cái thấy khổ thì phàm hay thánh đều là thấy khổ cả. Đó là cái biết trực tiếp giác quan. Nhưng mà biết khổ thì có hai loại hiểu biết về khổ.

  • Một là hiểu biết không đúng sự thật, gọi là vô minh tà kiến về cái khổ.
  • Hai là hiểu biết đúng như thật về khổ, gọi là minh là chánh kiến.

Phân biệt Minh và Vô minh về Khổ

Thế thì quý vị phải hiểu rằng cái hiểu biết đúng sự thật về khổ, là minh, là chánh kiến mới gọi là tuệ tri khổ đế hay là giác ngộ khổ đế. Cái chữ khổ đế ở đây ám chỉ là cái sự thật về khổ, là cái hiểu biết đúng sự thật về khổ. Còn đa phần hiện nay thì cho rằng khổ đế là cứ thấy khổ. Thấy người này, người kia ốm đau rồi chết chóc rồi không có công ăn việc làm, rồi là nằm viện, vv khổ nó khắp nơi như vậy.

Càng thấy được nhiều khổ thì là họ cho rằng đã giác ngộ khổ đế. Thế thì quý vị phải khám phá được cái sự thật về khổ, nhưng khám phá được sự thật về khổ là khổ đế đó thì cũng phải hiểu biết cái hiểu biết không đúng sự thật về khổ, vô minh về khổ của nhân loại, phải phân biệt được minh và vô minh về khổ.

Thường Kiến và Đoạn Kiến là 2 Tà Kiến

Trước tiên, quý vị phải hiểu cái thường kiến và đoạn kiến là hai tà kiến. Quý vị phải hiểu rằng các quan điểm, hiểu biết về thực tại này, thì đều cho cái thực tại này là thế giới vật chất. Và cho rằng thực tại này là thế giới vật chất thì nó có hai quan điểm về thế giới vật chất.

Quan điểm Duy vật cho rằng thực tại là thế giới vật chất

Một là quan điểm duy vật, cho rằng vật chất là sẵn có, luôn luôn có, không sinh ra, không mất đi. Nó chỉ biến đổi từ vật này sang vật khác, từ dạng này sang dạng khác. Quan điểm thứ nhất đó là dựa trên cái tiên đề công nhận rằng vật chất là có trước, vật chất là tồn tại vĩnh viễn. Vật chất, các vật thể đó là không sinh ra cũng không biến mất đi, nghĩa là không sinh không diệt. Nó chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác, từ vật này sang vật khác, thì ý thức là cái sản phẩm của cái thế giới vật chất đó.

Quan điểm này là quan điểm duy vật về thế giới mà cái quan điểm này công nhận và các sự vật và hiện tượng là không sinh ra cũng không mất đi, mà nó chỉ biến đổi từ vật này sang vật khác, từ dạng này sang dạng khác. Có nghĩa là nó biến mất ở chỗ này thì nó lại trình hiện ra chỗ khác. Nó không sinh, không diệt. Cho nên quan điểm này gọi là thường kiến.

Cho nên một số, kể cả trong Phật Giáo, một số người là ý cử vào cái quan điểm này mà vật chất là không sinh không diệt đó. Cho nên nói không là tất cả là chỉ biến đổi thôi, không ở chỗ này thì chỗ kia. Cho nên tất cả đều không sinh diệt, đừng có sợ hãi. Còn lấy quan điểm đó để nói rằng cha ông quý vị đâu có chết nó đang nằm trong các thực tế bào của quý vị đây này. Như vậy đâu có có sinh ra cũng đâu có diệt mất, vv.

Quan điểm đó gọi là thường kiến hay còn gọi là chấp có. Chấp có nghĩa rằng là cái thế giới vật chất đó nó tồn tại một cách khách quan. Nó là luôn luôn có, nó là thường xuyên có, nó vĩnh viễn có, nó không phụ thuộc vào cái con người nhận thức đó.

Quan Điểm Duy Tâm về thế giới vật chất

Cái quan điểm thứ hai là cho rằng cái thế giới vật chất này là do Thượng đế một năng lực tinh thần tuyệt đối Bất Khả tư nghì hóa hiện ra. Cái thế giới vật chất này Đức Chúa trời hay là thượng đế muốn cho nó tồn tại, muốn cho nó hiện ra như thế này thì nó sẽ hiện ra. Còn Chúa muốn nó biến mất lúc nào thì là Chúa sẽ làm cho nó biến mất.

Rồi là cái sự vận động của cái thế giới vật chất này là do Chúa điều khiển, Chúa muốn nước chảy ngược thì nó chạy ngược, muốn nó chảy xuôi thì nó chảy xuôi, vv. cái quan điểm đó là quan điểm duy tâm về thế giới vật chất mà và quan điểm đó gọi là đoạn kiến. Đoạn kiến có nghĩa là lúc này nó có như thế này. Chúa muốn nó biến mất khi nó tự dưng nó biến mất này. Đoạn kiến hiểu là như vậy.

Thường kiến và Đoạn kiến về Khổ

Quý vị thấy hai quan điểm đó, thường kiến và đoạn kiến là những cái tà kiến. Đức Phật là ly hai cực đoan đó thuyết pháp ở Trung Đạo. Bây giờ quý vị cũng quan sát đối đáp này để quý vị hiểu rằng là thường kiến và đoạn kiến về khổ là như thế nào. Là những hiểu biết sai lạc về khổ, vô minh tà kiến về khổ, rồi quý vị sẽ thấy rằng là Trung đạo Đức Phật thuyết sự thật về khổ, nó lý hai cực đoan, thường kiến và đoạn kiến đó.

Câu đầu đầu tiên Bà La Môn hỏi rằng là: Khổ do mình làm rồi mình chịu có đúng không?

Đức Phật nói là sai cái đó không đúng đó là thường kiến là tà kiến.

Điều này nghĩa là thế nào? khi mà quan niệm rằng khổ là do mình làm thì minh chịu, tức cho rằng có một cái ta không sinh không diệt. Nó tồn tại từ quá khứ hiện tại đến vị lai, cái ta đó là chủ chủ nhân tạo ra cái khổ đó.

Bây giờ chính cái ta đó là lãnh Thọ cái khổ đó, thì cái quan niệm đầu tiên, cái ta không sinh không diệt đó là một cái thường kiến rồi, quý vị sẽ thấy rằng quan điểm khổ mình làm mình chịu, thí dụ như ta là chủ nhân của nghiệp, khổ này trong kiếp sống này là do nghiệp ta đã tạo tác trong quá khứ. Bây giờ là ta phải là thọ lãnh cái quả của nghiệp đó. Đó chính là thường kiến.

Thường kiến về Khổ: quan niệm khổ do mình làm mình chịu

Giải thích khổ theo thường kiến đó, Ta là chủ nhân của nghiệp, ta là thừa tự của nghiệp. Đương nhiên, cái ta đó cũng thường trú rồi. Nhưng rõ ràng, khổ được tạo ra trong quá khứ và bây giờ ta lãnh thọ.

Khổ này là do ta thiếu phước báu kiếp xưa ta không làm thiện, không tạo phước báu, nên bây giờ ta thiếu phước này, cho nên bây giờ ta khổ, đó là thường kiến. Trước kia ta tạo nghiệp ác rồi, bây giờ ta phải thọ lãnh quả khổ này. Trả cái nghiệp này, bây giờ tu phải trả cho hết nghiệp. Đó là quan điểm thường kiến.

Quý vị quan sát cái hiểu biết về khổ của con người bây giờ như thế nào? quý vị thấy rằng nó chính là tà kiến về khổ, gọi là thường kiến, rất nhiều, nhiều lắm cứ quan sát cho kỹ, ngay cả trong Phật Giáo đều là những quan điểm về khổ như vậy, đều là thường kiến. Thí dụ như cho rằng tất cả các pháp là khổ, khổ sẵn có, luôn luôn có, thường xuyên có ở trong các pháp. Đó là thường kiến.

Thường kiến chấp có là như vậy và nó cũng hiểu theo lý nhân quả, nhưng cái lý nhân quả hiểu một cách vô minh. Một nhân sinh quả, thì quả trong nhân, quả trong nhân, nó chỉ biến đổi từ cái này sang cái khác thôi tương tức tương nhập nhân trong quả, quả trong nhân. Đó là quan điểm thường kiến là một tà kiến.

Đoạn Kiến về Khổ: Quan niệm khổ do người khác gây ra và mình phải chịu

Quan điểm thứ hai là khổ do người khác làm, rồi mình phải thọ lãnh cái khổ đó. Đức Phật xác nhận đây cũng là một tà kiến, là hiểu biết sai về khổ và tà kiến này là đoạn kiến này là như thế nào?

Ví dụ như quan điểm của tôn giáo trong Cựu Ước. Cho rằng những nỗi khổ đau của con người bây giờ là do ông Adam và bà Eva ăn quả cấm của cây tri thức. Cho nên con người phải chịu khổ là do tội của tổ tông. Chúa trừng phạt con người là do ông Adam và bà Eva do tổ tông gây nên.

Quý vị thấy rằng quan điểm này có phải là ông Adam và bà Eva phạm tội. Thế bây giờ Chúa trừng phạt loài người. Như vậy một người làm ra khổ là ông Adam và bà Eva, còn bây giờ loài người phải chịu cái khổ đó. Đó chính là quan điểm duy tâm, gọi là đoạn kiến. Đoạn kiến là như vậy.

Ví dụ như là quan niệm rằng cái phước, cái tội của gia đình mình là do cổ tiến ông bà ban cho. Thí dụ như là ông bà tổ tiên trừng phạt nhà mình, cho nên nhà mình phải khuynh gia bại sản hay nhờ bà tổ cô nào đó phù hộ cho nên bây giờ gia đình mình ăn nên làm ra.

Đó cũng là một hiểu theo cách thức đoạn kiến, theo cách thức đoạn kiến có nghĩa là có một thế giới tâm linh mà con người sống trong thế giới này, thì là khổ vui của họ, không phải là do họ làm ra, rồi họ lạnh chịu như là thường kiến, mà quan điểm rằng phải do cái thế giới tâm linh là thưởng phạt.

Thí dụ như theo kinh cựu ước cái sướng khổ của loài người đây là do Chúa ban cho hay là trong tâm linh của những dân cư phương đông thế giới tâm linh mà trong đó là tổ tiên của mình đang sống mà hay là các vị thánh Phật có thể là phù hộ cho mình, có thể là trừng phạt mình. Có nghĩa rằng là sướng khổ đó đều là do thế giới tâm linh thưởng phạt, đó chính là một người làm ra khổ còn người khác chịu đựng khổ thì đó chính là quan điểm đoạn kiến.

Thường kiến và Đoạn kiến cùng tồn tại trong mỗi người (trừ bậc thánh)

Quý vị sẽ thấy rằng cứ suy nghĩ cho kỹ, quan sát cho kỹ tuy rằng là có hai cái quan điểm thường kiến và đoạn kiến, nhưng mà nó không rạch ròi. Không phải là một người chỉ là theo thường kiến hay là một là chỉ riêng đoạn kiến mà trong tâm thức của mỗi người, trong cái biết ý thức tà kiến của mỗi người luôn luôn là tồn tại cả hai loại thường kiến và đoạn kiến đó chứ không phải là chỉ có một.

Cho nên không phải duy vật và duy tâm, Thường kiến và đoạn kiến nó chia ra là hai cái lĩnh vực rõ ràng, nó tồn tại là ở trong hai loại người rõ ràng. Không phải như vậy, trong mỗi một con người thì tư tưởng là thường kiến và đoạn kiến nó đều song hành. Đó gọi là hai cực đoan.

Đức Phật ly hai cực đoan thuyết Khổ do Duyên Khởi

Còn bây giờ Đức Phật thuyết pháp ở Trung Đạo, Ngài ly hai cực đoan đó như thế nào? Ngài trả lời là ta thấy khổ, ta biết khổ. Bà La Môn nói rằng là vậy khổ ở đâu? Đức Phật nói là khổ do duyên xúc. Khổ do duyên xúc, không có xúc thì khổ không khởi lên.

Vậy thì quý vị sẽ thấy là quan sát nếu như là trong Thập Nhị Nhân Duyên nói một cách tóm tắt là do có xúc, do có lục nhập tức là 6 căn và 6 trần sẽ có xúc. Do xúc mà có Thọ, do có Thọ mà có Ái, do có Ái mà có Thủ, do có Thủ mà có Hữu, Do có Hữu mà có Sinh, do có Sinh mà có già chết sầu bi khổ ưu não không thể kể xiết.

Vậy thì sầu bi khổ ưu não không thể kể xiết nó phát sinh theo một lộ trình nối tiếp nhau khởi đầu là 6 căn tiếp xúc với 6 trần thì lúc đó khổ mới khởi lên, không có tiếp xúc thì khổ không thể khởi lên. Quý vị thấy rằng là khi một người là ngủ say không mộng mị lúc đó là 6 căn không tiếp xúc với 6 trần lúc đó là có ai có khổ không, rõ ràng là khổ khởi lên là do duyên xúc.

Cụ thể trên lộ trình tâm Bát Tà đạo, quý vị thấy là mô tả tỉ mỉ là căn trần tiếp xúc phát sinh động thời thọ – tưởng, tiếp đến là tà Niệm, tà Tư duy, tà Tri kiến khởi lên, rồi là tham sân si, tà Định, Dục, Tà tinh tấn, phi như lý tác ý, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, cuối cùng là khổ vui.

Quý vị thấy là khổ là do duyên xúc do căn trần tiếp xúc mà phát sinh và căn trần không tiếp xúc thì khổ không phát sinh, khổ là do duyên khởi và quý vị phải thấy 1 đặc điểm như thế này, như vậy là khổ là do duyên xúc, do căn trần tiếp xúc, lộ trình tâm Bát tà đạo nó khởi lên thì khổ nó khởi lên, có nghĩa là khổ nó phát sinh ngay bây giờ và tại đây, Khổ không có trong quá khứ.

Quý vị thấy là Căn Trần tiếp xúc nhau mà phát sinh, hai cái đó là tương tác nhau mới phát sinh chứ không phải là khổ nó sẵn có ở trong căn hay trong trần. Quý vị là thấy Lý Duyên Khởi cái này có thể là hơi khó, nhưng bây giờ tôi nói cái hình ảnh này để quý vị thấy này.

Viên đá lửa và cái bánh xe là hai nhân, hai nhân tiếp xúc với nhau, do tiếp xúc đó, do duyên tiếp xúc đó nó phát sinh ra ánh lửa, thì ánh lửa này là trước khi nó chưa sinh thì nó không sẵn có đâu cả, nó không sẵn có nơi hòn đá lửa, cũng không có sẵn nơi cái bánh xe của bật lửa, như vậy Pháp duyên khởi là khi nào mà tiếp xúc, tương tác thì nó mới phát sinh, và khi mà nó chưa phát sinh, nó phát sinh do tương tác, không có tương tác không có tiếp xúc là không có phát sinh, cho nên nó không ở sẵn trong các nhân.

Vì vậy quý vị thấy rằng là khổ do Duyên xúc cho nên là khi nào xúc có mặt, căn trần lúc mà tiếp xúc thì khổ lúc đó mới khơi lên. Tức là khổ có mặt ngay bây giờ và tại đây, Khổ không sẵn có không luôn luôn có không thường xuyên có ở một cái chỗ nào đó nào cả. Cho nên là qúy vị thấy rằng như vậy là chấm dứt cái Thường Kiến, khổ sẵn có, luôn luôn có, thường xuyên có ở một chỗ nào.

Thí dụ như là quá khứ trước kia là có một người tạo ra khổ đó, thì khổ nó tồn tại nơi đó, vv, cho đến nay là người đó phải lãnh chịu, quý vị thấy rằng do duyên Khởi cho nên khổ là do duyên xúc, cho nên khổ chỉ có ngay bây giờ và tại đây, quá khứ không có khổ và khi mà khổ diệt rồi thì nó cũng không có trong tương lai.

Cho nên quý vị thấy tính chất của duyên khởi, khổ có mặt bây giờ và tại đây, nó không phải là do một người nào đó làm từ trong quá khứ, giữ nó trong quá khứ cho đến bây giờ là đưa đến cho quý vị bắt quý vị phải nhận cái khổ đó, cũng không phải là khổ nó là do một cái thế giới tâm linh nào đưa đến cho quý vị.

Như vậy quý vị sẽ thấy rằng khổ do duyên xúc, khổ có mặt ngay bây giờ và tại đây thì là nó chấm dứt cả thường kiến và đoàn kiến và khổ là do duyên khởi cho nên khổ nó vô thường nó sinh lên và nó cũng diệt đi, khổ là vô chủ vô sở hữu không có một cái ta, một cái tôi một cái bản ngã nào là chủ nhân chủ sở hữu của khổ, cũng không có Thượng đế nào là chủ nhân, chủ sở hữu điều khiển cái khổ đó, mang khổ đó đến cho con người.

Như vậy là quý vị thấy rằng Tuệ Tri được Khổ Đế, hiểu biết đúng sự thật về khổ, khổ do duyên xúc, khổ vô thường, vô chủ vô sở hữu thì lúc đó sẽ chấm dứt được cái thường kiến, chấm dứt được cái đoạn kiến. Điều này để nói rằng đây là một pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tĩnh, mỹ diệu, vượt quá mọi tư duy lý luận suông chỉ có người trí mới có khả năng lĩnh hội kiến thức này.

HIỂU ĐÚNG SỰ THẬT LÝ DUYÊN KHỞI, VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ ĐỂ LÀM GÌ ?

Phân biệt hai loại hiểu biết về quy luật nhân quả

Quý vị thấy rằng bài lý Duyên Khởi như đã đề cập là nền tảng của giáo pháp này. Cái đầu tiên quý vị học quý vị phải phân biệt được hai loại hiểu biết, hiểu biết sai sự thật về nhân quả và hiểu biết đúng sự thật về cái quy luật nhân quả.

Và hiểu biết đúng sự thật đó là các sự vật hiện tượng là do duyên khởi, hiểu biết sai là các sự vật hiện tượng là do nhân biến đổi mà thành. Quý vị quan sát sự thật để thấy rằng các sự vật hiện tượng không phải là do nhân biến đổi mà thành mà do duyên.

Duyên có nghĩa là sự tiếp xúc hay là tương tác giữa hai nhân thì gọi là duyên. Cho nên đầu tiên là quý vị thấy tất cả mọi sự vật hiện tượng là do duyên khởi. Và cái hiểu biết do duyên khởi này thì phải hiểu đúng quy luật là hai nhân tương tác với nhau rồi cùng diệt lúc đó nó phát sinh một hay nhiều quả.

Hệ quả của Lý Duyên Khởi: Vô thường và Vô chủ vô sở hữu

Đương nhiên là không phải một sự vật hiện tượng phát sinh theo một cái nhân quả, một quy trình 2 nhân tương tác với nhau cùng diệt nó phát sinh quả, có thể có các sự vật hiện tượng có rất nhiều tiến trình Duyên khởi nối tiếp nhau rồi mới phát sinh sự vật hiện tượng đó.

Hệ quả thứ nhất: Vô thường

Và theo quy luật Duyên Khởi như vậy thì hệ quả của nó là các sự vật hiện tượng đều vô thường, vô thường có nghĩa là sinh lên rồi diệt đi.

Trước khi sinh không ở đâu cả, sau khi diệt thì cũng không về đâu cả. Mỗi một sự vật hiện tượng như vậy chỉ xuất hiện chỉ tồn tại một lần duy nhất không bao giờ lặp lại. Khi mà quý vị hiểu được tính chất vô thường sinh diệt này thì mới phân biệt được với hiểu vô thường là các sự vật là biến đổi, biến đổi không phải là vô thường.

Sự vật này biến đổi sang sự vật khác là hiểu sai về quy luật nhân quả. Hiểu sai do nhân biến đổi thành quả, cho rằng sự vật biến đổi cho nên là vô thường. Vô thường không phải như vậy, vô thường có nghĩa là do hai nhân tương tác với nhau rồi cùng diệt theo quy luật nhân diệt quả sanh, thì vô thường là sinh diệt chứ không phải vô thường là biến đổi.

Hệ quả thứ hai: Vô chủ vô sở

Thứ hai là do quy luật Duyên khởi như vậy cho nên các sự vật hiện tượng đều vô chủ vô sở hữu. Có nghĩa là giữa các sự vật hiện tượng không có quan hệ chủ nhân chủ sở hữu. Nó khác hẳn với cái quan niệm với cái mặc định của nhân loại giữa các sự vật hiện tượng luôn luôn tồn tại chữ CỦA, chữ của đó là biểu hiện của quan hệ chủ nhân chủ sở hữu.

Sự vật hiện tượng này là chủ nhân chủ sở hữu của cái sự vật hiện tượng kia, cho nên quý vị thấy rằng tính chất vô chủ vô sở hữu là hệ quả của quy luật Duyên khởi. Khi quý vị học, hiểu thâm nhập lý Duyên khởi thì quý vị thấy rằng tất cả các sự vật hiện tượng vật chất hoặc tinh thần, sắc hay danh đều vô thường đều vô chủ vô sở hữu. Cái vô chủ, vô sở hữu này cũng đồng nghĩa là không có cái ta cái tôi cái bản ngã nào là chủ nhân chủ sở hữu của các sự vật hiện tượng của thân tâm, vv.

Nhân loại đang sống với 2 tư tưởng chấp thường và chấp ngã

Mục đích là quý vị phải hiểu rằng nhân loại này sống bởi hai cái tư tưởng tà kiến mãnh liệt nhất chi phối toàn bộ cái nhận thức của nhân loại đó là thường kiến và ngã kiến hay là chấp thường và chấp ngã. Cho rằng các cái sự vật là hiện tượng là thường còn cho nên là đó là biểu hiện của chấp thường.

Chấp thường là khao khát ổn định, đều hướng đến ổn định

Quý vị thấy rằng vì chấp thường hay là thường kiến cho nên tất cả nhân loại này đều khao khát ổn định, đều mong muốn ổn định. Đều khao khát ổn định, đều hướng đến ổn định, đều tìm kiếm ổn định, đều ràng buộc với ổn định. Ai cũng là tìm kiếm một cuộc sống ổn định, một hạnh phúc ổn định, một gia đình ổn định, một công việc ổn định, một chế độ ổn định, vv. Đó chính là cái biểu hiện của thường kiến.

Bởi vì bản chất của tất cả các sự vật hiện tượng là vô thường nó sinh nó diệt liền. Nó không tồn tại mãi mãi, mà sự thật này nó trải ngược với tư tưởng của nhân loại là cái tư tưởng chấp thường, khao khát thường mong muốn thường còn muốn rằng là mọi sự là ổn định, cho rằng là tình yêu cũng phải là thường còn cho nên chủ trương là chung thủy, vv, tất cả đều hướng đến ổn định khao khát ổn định công việc cũng ổn định tất cả đều ổn định. Cái tư tưởng chấp thường đó khao khát ổn định đó nó trái ngược với cái sự thật là vô thường.

Con người Đau khổ vì sống trái với sự thật Vô thường

Cho nên con người đau khổ là bởi vì sống trái với sự thật vô thường. Không chấp nhận sự thật vô thường bởi vì tư tưởng là khao khát thường, khao khát ổn định. Vì vậy nếu như là quý vị học, quý vị hiểu cái bản chất của Duyên khởi, bản chất của các sự vật hiện tượng là Duyên khởi là vô thường thì dần dà quý vị mới từ bỏ được cái hiểu biết sai lạc cái chấp thường của mình.

Từ bỏ được cái khao khát ổn định mong muốn ổn định lúc đó quý vị mới chấp nhận sự thật vô thường và sống phù hợp với sự thật vô thường đó. Cho nên quý vị mới thấy rằng ở trong tâm khảm của mỗi người quý vị thấy rằng là con người là khao khát cái cái thường, mong muốn thường, muốn làm sao cho con mình tìm được công việc ổn định, rồi có một cái gia đình ổn định, rồi có một cái tương lai ổn định, vv.

Chấp nhận vô thường để bình thản trước mọi thứ sinh lên rồi diệt đi

Tìm kiếm cái ổn định khao khát cái ổn định đó nhưng mà điều này nó trái với cái sự thật vô thường, vô thường không phải là biến đổi, vô thường là sinh diệt cho nên là cái thứ nhất học Lý Duyên khởi để chấm dứt cái tư tưởng chấp thường khao khát ổn định để là chấp nhận vô thường. Cho nên khi mà một sự vật hiện tượng là diệt đi chấm dứt một cái kết quả chấm dứt, người thân trong gia đình chết hay vv, khi người đó xác định là tất cả mọi sự đều vô thường thì sẽ nhìn nhận sự việc đó một cách bình thản.

Vì khao khát ổn định mong muốn nó là thường còn mãi mãi, cho nên khi sự việc đó mất đi thì sầu bi khổ não khởi lên. Còn khi mà biết rằng mọi thứ là vô thường, luôn luôn sẵn sàng thì khi nó mất đi không ngạc nhiên về cái chuyện đó, không đau khổ về cái chuyện đó, đó là cái khía cạnh thứ nhất của Lý Duyên Khởi. Học để thấu hiểu để chấp nhận vô thường để chấp nhận mọi thứ sinh lên rồi diệt đi, còn không chấp nhận vô thường cho nó là thường còn cho nó là mãi mãi thì như vậy đến khi mất nó đi là khổ sẽ khởi lên.

Chấp nhận Vô ngã để từ bỏ tư tưởng làm chủ, sở hữu, điều khiển

Thứ hai là chấp nhận các pháp là vô chủ vô sở, quý vị học trong bài Lý Duyên khởi rồi, tất cả nhân loại này đều sống với tư tưởng làm chủ tư tưởng sở hữu cái tư tưởng điều khiển cho nên rằng là luôn luôn là muốn làm chủ luôn luôn là muốn sở hữu luôn luôn là muốn điều khiển. Mà bản chất các cái sự vật hiện tượng thì là vô chủ vô sở hữu có nghĩa là không thể nào làm chủ không thể nào sở hữu không thể nào điều khiển được nó.

Đây là một cái điều rất là sâu kín điều này nó trái ngược với tư tưởng của con người là muốn làm chủ, muốn điều khiển, muốn sở hữu. Cho nên chính cái tứ tưởng này nhân loại đang sống trong cái ảo tưởng, ảo tưởng với cái quyền làm chủ, quyền sở hữu, quyền điều khiển. Tất cả nhân loại này thì đều đang phấn đấu nỗ lực để là xác lập để tăng trưởng quyền làm chủ quyền sở hữu quyền điều khiển. Quyền làm chủ cuộc sống, làm chủ vợ con, làm chủ gia đình, làm chủ xã hội, làm chủ tương lai rồi là sở hữu tiền bạc nhà cửa đất đai, vv

Tất cả tư tưởng của loài người đang xoay quanh cái tư tưởng làm chủ, tư tưởng sở hữu nhưng thật sự con người cứ tưởng rằng là đó là sự thật, là hợp lý nhưng mà con người không biết rằng là con người đang sống với tư tưởng gọi là ảo tưởng bởi vì bản chất của tất cả các sự vật hiện tượng là vô chủ vô sở hữu.

Tuệ tri được Lý Duyên Khởi, Tuệ tri Vô ngã lúc đó khổ mới chấm dứt 

Chừng nào mà Tuệ tri được lý Duyên Khởi, tuệ tri được các sự vật là vô chủ vô sở hữu, thâm nhập được nó, thì lúc đó mới không còn cái tư tưởng làm chủ, tư tưởng sở hữu, tư tưởng điều khiển lúc đó mới chấm dứt khổ và hiểu được quy luật Duyên Khởi thì không có cái cái tư tưởng làm chủ tư tưởng điều khiển khi mà làm chủ nó phù hợp với cái tư tưởng đó, điều khiển được vợ con, điều khiển được con cái, vv, thì vui mừng, nhưng mà ngược lại khi mà không điều khiển được bị cãi lại, bị phản đối thì lúc đó là sầu bi khổ não khởi lên.

Vì cái tư tưởng làm chủ, tư tưởng điều khiển cho nên quý vị thấy rằng là trong đời sống gia đình rồi là đồng nghiệp, vv, hành vi đổ lỗi cho nhau là một hành vi phổ biến và điều đó đưa đến những nỗi khổ rất lớn trong đời sống nhân loại đổ lỗi cho nhau là bởi vì không thấy được Lý Duyên khởi.

Hai người tương tác với nhau nó phát sinh quả, quả đó tốt hay xấu nó không phải là do người này hay do người kia mà do tương tác của cả hai người. Nhưng mà vì cái tư tưởng làm chủ, tư tưởng sở hữu, không hiểu được điều đó cho nên người này khi mà thất bại, người này đổ lỗi cho người kia, người kia lại đổ lỗi cho người này, đó là không thấy được sự thật về lý duyên khởi, không thấy được các sự vật là vô chủ, vô sở hữu, quý vị phải đọc lại bài Lý Duyên khởi trong sách con đường 2 ngã bài giảng này, quý vị cần phải đọc lại nhiều lần suy tư nhiều lần rồi quan sát sự thật để thấu suốt Lý Duyên khởi, đồng thời thấu suốt các sự vật hiện tượng cho dù vật chất hay tinh thần đều vô thường đều vô chủ vô sở hữu.

Duyên Khởi phát sinh Chánh niệm và Tà niệm

Không phải chúng ta hiểu lý duyên khởi rồi chúng ta muốn được quả tốt thì gieo cái nhân lành để được quả tốt, quý vị sẽ thấy rằng chúng ta phải hiểu lý Duyên khởi để hiểu được cái quy luật vận hành.

Thí dụ như quý vị hiểu lý Duyên khởi để quý vị thấy rằng nếu như trên lộ trình tâm Bát Tà Đạo trong bộ nhớ của quý vị là có vô minh, ta của ta, rồi các trí thức kinh nghiệm thì lúc này thông tin Căn Trần tiếp xúc phát trình đồng thời Thọ Tưởng, cái thông tin Thọ tưởng nó tương tác với cái thông tin Vô Minh chấp ngã ở trong bộ nhớ, hai nhân nó tương tác với nhau thì làm phát sinh ra tà niệm. Còn bây giờ quý vị học về Minh rồi cho nên trong bộ nhớ của quý vị có hai loại thông tin một loại thông tin là vô minh, ta của ta và một cái thông tin là Minh.

Quý vị thấy rằng nếu như cái thông tin Thọ tưởng nó tương tác với cái thông tin Vô Minh chấp ngã thì nó phát sinh tà niệm, nếu như cái thông tin Thọ tưởng mà tương tác với Minh thì nó phát sinh là chánh niệm. Cho nên quý vị sẽ thấy rằng trong bộ nhớ của quý vị vẫn có hai loại thông tin, tức hai loại nhân Vô minh và Minh nếu như thông tin Thọ tưởng mà tương tác với vô minh thì phát sinh tà niệm, thông tin là Thọ tưởng mà tiếp xúc với Minh thì ra chánh niệm. Thế thì bây giờ là quý vị làm động tác nào để là cái thông tin Thọ Tưởng không tương tác với vô minh thì lúc đó là tà niệm nó sẽ không khởi lên.

Cho nên là giai đoạn đầu tu là quý vị thực hành để cái thông tin Thọ tưởng là một nhân và cái thông tin vô minh ta của ta là một nhân nếu như là nó tương tác với nhau thì nó ra tà niệm và bây giờ thực hành như thế nào để hai nhân này không tương tác với nhau thì lúc đó là tà niệm không khởi lên.

Làm cho thông tin Minh nổi trội hơn để tạo duyên Chánh niệm khởi lên

Và việc đó quý vị phải làm thế nào để cho thông tin Thọ tưởng nó tương tác với thông tin Minh thì lúc đó chánh niệm sẽ khởi lên, tà niệm không khởi lên nữa. Vậy thì trong trường hợp này như quý vị học, quý vị phải có hành vi nào để làm cho thông tin Minh nó nổi trội hơn thông tin vô minh trong bộ nhớ thì lúc đó là chánh niệm sẽ khởi lên, thì lúc đó là chúng ta ứng dụng trong lý duyên khởi này để là thực hành đây thôi.

 


Nhận xét

Bài đăng phổ biến