BUDDHA - VÔ NGÃ TƯỚNG
Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức đều là vô ngã
TÌM HIỂU KINH VÔ NGÃ TƯỚNG (Anattalakkhaṇasutta)
Sau 5 ngày nghe Kinh Chuyển Pháp Luân tại Vườn Nai, cả
năm vị nhóm Kiều Trần Như đều trở
thành bậc Thánh Nhập Lưu. Cho nên, Đức Phật tiếp tục thuyết Kinh Vô Ngã
Tướng để tế độ năm vị tiến đến Quả vị A La Hán.
Trong bài Kinh này, Đức Thế Tôn dạy rằng Sắc, Thọ, Tưởng,
Hành và Thức đều vô ngã. Tất cả ngũ uẩn này cần phải được nhận thức với tri kiến
chân chánh theo thực tướng của chúng: ‘Cái này không phải của tôi, đây
không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi’. Nhờ vậy, mà hành giả
nhàm chán ngũ uẩn, dứt bỏ, không tham ái và được giải thoát hoàn toàn khỏi khổ
đau.
Sắc uẩn là vô ngã, vô thường và khổ đau
Sắc uẩn này là vô ngã, do nhân duyên mà sinh, mà diệt nên nó
không phải ta, không chiều theo ý muốn của ta. Vì nếu sắc uẩn này là ta (ngã)
thì nó không bị biến đổi, bệnh hoạn, xấu xí, mà phải khỏe mạnh, đẹp đẽ như ý.
Sắc uẩn này sinh rồi diệt, luôn biến đổi, vô thường và khổ
đau nên hành giả không nên chấp thủ rằng: Sắc uẩn này là của ta (do tâm tham
ái), là ta (do tâm ngã mạn) hay là tự ngã của ta (do tâm tà kiến).
Thọ uẩn là vô ngã, vô thường và khổ đau
Thọ uẩn này là vô ngã, do nhân duyên mà sinh, mà diệt nên nó
không phải ta, không chiều theo ý muốn của ta. Vì nếu thọ uẩn này là ta (ngã)
thì nó không bị biến đổi, bệnh thân, bệnh tâm và khổ đau, mà phải an lạc như ý.
Thọ uẩn này sinh rồi diệt, luôn biến đổi, vô thường và khổ
đau nên hành giả không nên chấp thủ rằng: Thọ uẩn này là của ta (do tâm
tham ái), là ta (do tâm ngã mạn) hay là tự ngã của ta (do tâm tà
kiến).
Tưởng uẩn là vô ngã, vô thường và khổ đau
Tưởng uẩn này là vô ngã, do nhân duyên mà sinh, mà diệt nên
nó không phải ta, không chiều theo ý muốn của ta. Vì nếu tưởng uẩn này là ta (ngã)
thì nó không bị biến đổi, bệnh tâm, nghĩ tưởng những
điều xấu ác, mà chỉ luôn nghĩ những điều thiện lành, tốt đẹp
.
Tưởng uẩn này sinh rồi diệt, luôn biến đổi, vô thường và khổ
đau nên hành giả không nên chấp thủ rằng: Tưởng uẩn này là của ta (do tâm
tham ái), là ta (do tâm ngã mạn) hay là tự ngã của ta (do tâm tà
kiến).
Hành uẩn là vô ngã, vô thường và khổ đau
Hành uẩn này là vô ngã, do nhân duyên mà sinh, mà diệt nên
nó không phải ta, không chiều theo ý muốn của ta. Vì nếu hành uẩn là ta (ngã)
thì nó không bị biến đổi, bệnh tâm, hành ác nghiệp, mà chỉ hành thiện nghiệp.
Hành uẩn này sinh rồi diệt, luôn biến đổi, vô thường và khổ
đau nên hành giả không nên chấp thủ rằng: Hành uẩn này là của ta (do tâm
tham ái), là ta (do tâm ngã mạn) hay là tự ngã của ta (do tâm tà
kiến).
Thức uẩn là vô ngã, vô thường và khổ đau
Thức uẩn này là vô ngã, do nhân duyên mà sinh, mà diệt nên
nó không phải ta, không chiều theo ý muốn của ta. Vì nếu thức uẩn là ta (ngã)
thì nó không bị biến đổi, bệnh tâm, biết điều xấu ác, mà chỉ biết điều thiện
lành.
Thức uẩn này sinh rồi diệt, luôn biến đổi, vô thường và khổ
đau nên hành giả không nên chấp thủ rằng: Thức uẩn này là của ta (do tâm
tham ái), là ta (do tâm ngã mạn) hay là tự ngã của ta (do tâm tà
kiến).
Trí Tuệ Thiền Tuệ Không Chấp Thủ Ngũ Uẩn
Bằng trí tuệ Thiền Tuệ, hành giả thấy rõ, biết rõ theo thực
tánh của tất cả các ngũ uẩn rằng uẩn ấy (Sắc, thọ, tưởng, hành hay thức)
không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta dù cho uẩn ấy
đã sinh từ quá khứ, sẽ sinh ở vị lai,
đang sinh hiện tại, hoặc bên trong mình, hay bên
ngoài người, hoặc thô thiển, hay vi tế, hoặc thấp hèn, hay cao quý, hoặc ở xa,
hay ở gần.
Nhận xét
Đăng nhận xét