BUDDHA - THIỀN TUỆ
THIỀN TUỆ (Vipassanā) là gì? Thân Thọ Tâm Pháp là gì? 16 trí tuệ đạt được khi thiền
THIỀN TUỆ (Vipassanā) là gì?
Giới Thiệu
Thiền Tuệ (Thiền Quán, Thiền Tứ Niệm Xứ) là trí tuệ
thấy rõ và biết rõ Danh Pháp (tâm), Sắc Pháp (thân) sinh rồi diệt,
nên hiện thấy rõ biết rõ ba trạng thái chung: Vô thường, khổ, vô ngã, dẫn đến sự
chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Tứ Thánh Đạo, Tứ Thánh Quả và Niết
Bàn, diệt đoạn tuyệt được mọi tham ái cùng mọi phiền não và mọi ác pháp, giải
thoát khổ tử sinh luân hồi.
Qua cuộc đời của Đức Phật, khi còn là Đức Bồ Tát, Ngài đã từng
thọ giáo với vị Đạo Sư Ālāra Kālāmagotta và vị Đạo sư
Udaka Rāmaputta về Pháp hành Thiền Định. Đức Bồ Tát
đã chứng đắc Tứ thiền Sắc giới và Tứ thiền Vô Sắc giới, là thành tựu cao nhất
lúc bấy giờ, nhưng Ngài vẫn chưa giác ngộ. Nhờ Pháp Hành Thiền Tuệ, do
tự mình khám phá, thực hành, Ngài đã thành tựu Phật Quả Chánh Đẳng Giác. Cho
nên đây là Pháp hành chỉ có trong Phật giáo, không có ngoài Phật giáo.
Đối Tượng Của Pháp Hành Thiền Tuệ
Danh Pháp (Tâm) và Sắc Pháp (Thân) là đối tượng
chính của Thiền Tuệ được phân ra cụ thể trong 4 đối tượng: Thân, Thọ,
Tâm, Pháp theo Kinh Đại Niệm Xứ. Thân, Thọ, Tâm, Pháp là
4 đối tượng của chánh niệm, trí tuệ tỉnh giác cụ thể như sau:
Thân
Thân quán niệm xứ: Có 14 đối tượng:
- Niệm
hơi thở vô, hơi thở ra.
- Niệm
tứ oai nghi chính: đi, đứng, ngồi, nằm.
- Niệm
tất cả các oai nghi phụ: co, duỗi, quay….
- Niệm
32 thể trược trong thân.
- Niệm
tứ đại: đất, nước, lửa, gió.
- Niệm
tưởng thân mình như tử thi bỏ ở nghĩa địa, đã trải qua 1-2-3 ngày.
- Niệm
tưởng thân mình như tử thi bỏ ở nghĩa địa, bị quạ, diều, chó rừng… cắn xé
ăn thịt.
- Niệm
tưởng thân mình, như tử thi bỏ ở nghĩa địa, chỉ còn là bộ xương dính thịt
và máu, có gân ràng rịt.
- Niệm
tưởng thân mình, như tử thi bỏ ở nghĩa địa, chỉ còn xương dính máu thịt rã
rời….
- Niệm
tưởng thân mình, như tử thi bỏ ở nghĩa địa, chỉ còn bộ xương khô, không có
máu và thịt nữa.
- Niệm
tưởng thân mình, như tử thi bỏ ở nghĩa địa, chỉ còn bộ xương rời rã, rải
rác mọi nơi.
- Niệm
tưởng thân mình, như tử thi bỏ ở nghĩa địa, chỉ còn bộ xương màu trắng.
- Niệm
tưởng thân mình, như tử thi bỏ ở nghĩa địa, chỉ còn một đống xương.
- Niệm
tưởng thân của mình, như tử thi bỏ ở nghĩa địa, chỉ còn là bột xương trắng.
Đó là 14 đối tượng của Thân quán niệm xứ thuộc về Sắc
Pháp.
Thọ
Thọ quán niệm xứ: Có 1 đối tượng, chia 9
loại thọ:
- Thọ
khổ;
- Thọ
lạc;
- Thọ
không khổ, không lạc (thọ xả).
- Thọ
khổ hợp với ngũ dục;
- Thọ
lạc hợp với ngũ dục.
- Thọ
không khổ không lạc hợp với ngũ dục.
- Thọ
khổ không hợp với ngũ dục.
- Thọ
lạc không hợp với ngũ dục.
- Thọ
không khổ không lạc không hợp với ngũ dục.
Đó là 1 đối tượng Thọ quán niệm xứ, thuộc Danh Pháp.
Tâm
Tâm quán niệm xứ: Có 1 đối tượng, chia 16
loại tâm:
1- Tâm tham.
2- Tâm không tham.
3- Tâm sân.
4- Tâm không sân.
5- Tâm si.
6- Tâm không si.
7- Tâm buồn ngủ.
8- Tâm phóng tâm.
9- Đại hành tâm (tâm thiền Sắc giới, Vô Sắc giới).
10- Tâm không phải đại hành tâm (tâm Dục giới).
11- Tâm bậc thấp (tâm Dục giới).
12- Tâm bậc cao (tâm Sắc giới, Vô Sắc giới).
13- Tâm định (tâm cận định, tâm an định).
14- Tâm không định.
15- Tâm thoát khỏi phiền não từng thời (tâm Dục giới).
16- Tâm không thoát khỏi phiền não.
Đó là 1 đối tượng Tâm quán niệm xứ, thuộc Danh Pháp.
Pháp
Pháp quán niệm xứ: Có 5 đối tượng:
Một là 5 Pháp chướng ngại
Năm pháp chướng ngại: Tham dục,
sân (sân hận và sân giận), hôn trầm, trạo hối, hoài nghi. Năm pháp
chướng ngại thuộc về Danh pháp.
Hai là ngũ uẩn cháp thủ
Ngũ uẩn chấp thủ: Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng
uẩn, hành uẩn, và thức uẩn chấp thủ. Ngũ uẩn thuộc về Sắc Pháp và Danh pháp.
Ba là 12 xứ
Mười Hai xứ:
– 6 xứ bên ngoài: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
– 6 xứ bên trong: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý.
12 xứ thuộc về Sắc pháp và Danh pháp.
Bốn là thất giác chi
Thất giác chi: Niệm giác chi, trạch pháp
giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, lạc giác chi, định giác chi, xả giác
chi. Thất giác chi thuộc về Danh Pháp.
Năm là Tứ Đế
Tứ đế:
- Khổ
Thánh đế: Đó là Danh Pháp, Sắc Pháp ở tam giới.
- Tập
Thánh đế: Đó là tham ái, nhân sinh Khổ Thánh đế.
- Diệt
Thánh đế: Đó là Niết Bàn, Pháp diệt Khổ Thánh đế.
- Đạo
Thánh đế: Đó là Bát chánh đạo, là Pháp hành dẫn đến sự chứng ngộ
Niết Bàn.
Tứ Thánh Đế thuộc về Danh Pháp, Sắc Pháp, chia làm 2 loại:
- Khổ
Thánh đế và Tập Thánh đế thuộc Danh Pháp, Sắc Pháp trong tam giới.
- Diệt
Thánh đế và Đạo Thánh đế thuộc Danh pháp trong siêu tam giới
Trên đây là 5 đối tượng của Pháp quán niệm xứ, thuộc về
Danh Pháp và Sắc Pháp.
Pháp Hành Thiền Tuệ có 21 đối tượng của Pháp hành Tứ niệm xứ.
Trong 21 đối tượng này, đối tượng nào cũng có khả năng dẫn đến sự chứng ngộ
chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Đạo Quả tùy theo 5 pháp chủ (Tín, Tấn, Niệm,
Định, Tuệ) và trí tuệ Ba La Mật của hành giả.
Bốn Loại Tánh Của Hành Giả Hành Thiền Tuệ
Về Thiền Tuệ, hành giả được phân loại có 2 bản tánh, gồm có
4 hạng người:
- Có
tánh tham ái, trí tuệ kém thích hợp niệm
Thân.
- Có
tánh tham ái, trí tuệ nhiều thích hợp niệm
Thọ.
- Có
tánh tà kiến, trí tuệ kém thích hợp niệm
Tâm.
- Có
tánh tà kiến, trí tuệ nhiều thích hợp niệm
Pháp.
Nếu hành giả biết chọn đúng đối tượng Thiền Tuệ thích hợp với
tánh và trí tuệ của mình, thì việc tiến hành Thiền Tuệ ở giai đoạn ban đầu rất
thuận lợi cho sự phát triển trí tuệ Thiền Tuệ. Đến giai đoạn giữa và cuối còn
tùy thuộc vào căn duyên mỗi hành giả trong kiếp quá khứ.
Trong Chú giải Kinh Đại niệm xứ dạy rằng:
- Hành
giả có tánh tham ái, trí tuệ kém, thì thích hợp niệm
thân (Sắc Pháp) để thấy biết rõ thân này bất
tịnh nên diệt được tâm tham ái vào thân đẹp.
- Hành
giả có tánh tham ái, có trí tuệ nhiều, thì thích hợp niệm
thọ (Danh Pháp) để thấy biết rõ thọ này khổ,
mới diệt được tham ái vào thọ lạc.
- Hành
giả có tánh tà kiến, trí tuệ kém, thì thích hợp niệm
tâm (Danh Pháp) để thấy biết rõ tâm này vô
thường, nên diệt tâm tà kiến về tâm cho là thường.
- Hành
giả có tánh tà kiến, trí tuệ nhiều, thích hợp niệm
pháp (Danh Pháp, Sắc Pháp) sẽ thấy biết rõ pháp
này vô ngã, nên diệt được tâm tà kiến về
pháp có ngã.
Tuy bốn đối tượng: “thân là bất tịnh, thọ là khổ, tâm
là vô thường, pháp là vô ngã” chỉ đề
cập đến tính chất đặc biệt của mỗi đối tượng. Nhưng thực ra,
tất cả 4 đối tượng “Thân, Thọ, Tâm, Pháp” đều có trạng thái vô thường,
khổ, vô ngã và bất tịnh. Nếu hành giả biết chọn đúng đối tượng thích hợp với
tánh và trí tuệ của mình, thì việc tiến hành Thiền Tuệ rất thuận lợi cho sự
phát triển trí tuệ Thiền Tuệ, để thấy rõ, biết rõ trạng thái riêng, sự sanh diệt
và trạng thái chung của Danh Pháp, Sắc Pháp; dẫn đến chứng ngộ 4 Thánh Đạo, 4
Thánh Quả và Niết Bàn.
Phương Pháp Diệt Trừ Tà Kiến, Tham Ái, Ngã Mạn
Hành giả hành Thiền Tuệ, không tiến bộ được là do phiền não
làm tâm ô nhiễm, nhất là Tà kiến (diṭṭhi), Ngã mạn (māna) và
Tham ái (taṇhā).
Khi trí tuệ Thiền Tuệ có năng lực thấy rõ bản chất của Danh
Sắc là Vô thường, Khổ và Vô ngã, thì hành giả có thể diệt trừ từng thời các phiền
não như sau: Vô thường diệt trừ tâm Ngã mạn, Khổ diệt
trừ tâm Tham ái và Vô ngã diệt trừ tâm Tà kiến. Chỉ
có vị Thánh A La Hán mới diệt trừ hoàn toàn tâm Ngã mạn và Tham ái. Còn vị
Thánh Tu Đà Hoàn có thể diệt trừ hoàn toàn tâm Tà kiến.
Kết Quả Của Pháp Hành Thiền Tuệ
Kết quả của Pháp Hành Thiền Tuệ là những kết quả diễn tiến
theo nhân quả tuần tự như sau:
- Đầu
tiên hành giả nên tìm đến một bậc Thiện trí trong Phật Giáo, là một vị Thiền
Sư thông thạo về Pháp học, có đầy đủ kinh nghiệm về Pháp Hành Thiền Tuệ để
làm nơi nương nhờ.
- Hành
giả là người có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, có đức tính nhẫn nại, lắng
nghe, học hỏi, nghiên cứu để hiểu rõ đối tượng của Thiền Tuệ là tất cả mọi
Danh Pháp, Sắc Pháp thuộc về Thực tánh Pháp.
- Hành
giả là người có giới hạnh trong sạch để làm nền tảng cho Định và Tuệ.
- Khi
tiến hành Thiền Tuệ, hành giả cần phải hiểu biết rõ về Yonisomanasikāra:
Sự hiểu biết trong tâm bằng trí tuệ đúng theo 4 trạng thái của mọi Danh
Pháp, Sắc Pháp, để ngăn ngừa tâm vô minh che án thực tánh của Danh Pháp, Sắc
Pháp và những điều hư ảo.
- Hành
giả tiến hành Thiền Tuệ đúng theo Pháp hành Trung đạo, để diệt được tham
tâm (hài lòng) và sân tâm (không hài lòng) ở đối tượng Danh
Pháp, Sắc Pháp.
- Hành
giả tiến hành Thiền Tuệ đúng, có khả năng dẫn đến kết quả là phát sinh trí
tuệ Thiền Tuệ theo tuần tự, từ thấp lên cao, từ trí tuệ Thiền Tuệ tam giới,
đến trí tuệ Thiền Tuệ siêu tam giới, gồm có 16 trí tuệ Thiền Tuệ.
Mười sáu trí tuệ Thiền Tuệ (Vipassanāñāṇa)
1. Tuệ Phân Biệt Danh Sắc;
2.Tuệ Phân Tích Nhân Duyên;
3.Tuệ Thẩm Sát Tam Tướng;
4.Tuệ Sinh Diệt;
5.Tuệ Diệt;
6.Tuệ Kinh Sợ;
7.Tuệ Nguy Hại;
8.Tuệ Nhàm Chán;
9.Tuệ Cầu Thoát;
10. Tuệ Quán Chiếu;
11.Tuệ Hành Xả;
12.Tuệ Thuận Thứ;
13.Tuệ Chuyển Tộc;
14.Tuệ Thánh Đạo;
15. Tuệ Thánh Quả;
16. Tuệ Phản Khán.
Chỉ có Pháp môn Vipassanā (với sự hỗ trợ ít nhiều của
Samatha) mới có thể dẫn đến cứu cánh giải thoát. Nếu chỉ
tu tập Samatha (Thiền Định) mà
không có Vipassanā (Thiền Tuệ) thì cái đạt được nhiều lắm chỉ là
Thiền Định, thần thông và sự tái
sinh về các cõi Phạm Thiên. Vì Samatha là sự tập trung
tư tưởng vào một đề mục nào đó, nhằm đạt khả
năng định tâm đủ làm lắng yên các phiền não thuộc
Dục giới. Đây là đường đi của những ai chán sợ và muốn lìa bỏ đời sống Dục giới.
Với người không cầu giải thoát tuyệt đối, tức sự chứng ngộ
Niết Bàn bằng Thánh trí, nhổ bỏ tận gốc tất cả phiền não tiềm tàng, thì họ xem
Samatha là con đường dẫn đến thần thông và các cõi Phạm thiên.
Người cầu đạo giải thoát thì tu tập Samatha nhằm có được khả
năng định tâm, rồi lấy đó làm nền tảng cho trí tuệ Vipassanā để nhổ bỏ tận gốc
tất cả mầm mống sanh tử, không riêng gì những phiền não thuộc về cõi dục (sự
thích ghét trong Sắc, Thanh, Mùi, Vị, Xúc).
Từ đó, có hai hạng hành giả:
- Samathayānika: Hạng
hành giả có chứng thiền Samatha, ít nhất từ Sơ thiền,
trước khi tu tập Vipassanā.
- Vipassanāyānika: Hạng
hành giả chưa chứng qua một bậc thiền Samatha nào, khả năng định tâm của họ
tối đa chỉ là Cận Định hoặc Sát na định.
Trong Chánh Tạng xác định rõ ràng thời Đức Phật có cả
hai hạng hành giả này, dù chính Đức Phật luôn có vẻ khích lệ và đặc biệt đề cao
hạng hành giả có tu tập Samatha trước hoặc đang khi tu tập Vipassanā (Chỉ
Quán song tu – Yuganaddha). Đức Phật gọi chung Samatha và Vipassanā là hai
Pháp thuộc Minh Phần (Vijābhāgiya), tức điều kiện bắt buộc cho
Thánh Đạo, cho sự chấm dứt Vô minh. Phiền não có ba dạng:
- Phiền
não tác động ta làm các nghiệp bất thiện qua thân, khẩu mà ai
cũng có thể nhìn thấy ta bất thiện.
- Phiền
não chỉ xuất hiện trong tâm mỗi người mà chỉ mình mới biết
hay người có Tha tâm thông mới biết.
- Phiền
não ngủ ngầm ngay mỗi phàm phu, dù đang sống trong thiện tâm
thì khả năng ấy vẫn kín đáo tồn tại và chờ cơ hội phát tác.
Tu tập Samatha đến mức có thể chứng các bậc thiền cao nhất,
thì hành giả cũng chỉ tạm thời làm vắng mặt hai dạng phiền não đầu tiên. Dù họ
có về cõi Phạm Thiên sống thanh tịnh suốt mấy
chục ngàn đại kiếp, thì sau đó chính dạng phiền não thứ ba sẽ
khiến họ quay lại làm một người bình thường, với đầy đủ các thứ phiền não như
chưa có gì xảy ra. Riêng một hành giả tu tập Vipassanā nếu đủ duyên lành thì từ
sự quan sát và chán sợ Danh Sắc qua Tam Tướng, sẽ chứng đắc tối thiểu
là Sơ Đạo, nhổ bỏ tận gốc hai phiền não quan trọng nhất trong việc dẫn
sanh ba cõi là Thân Kiến và Hoài Nghi.
Từ nền tảng này, vị Thánh Tu Đà Hoàn nếu có phải tái sinh
thêm nữa thì cũng không thể vượt quá bảy lần. Nghĩa là sự thành tựu rốt ráo
trong Pháp môn Vipassanā có thể giúp hành giả loại bỏ triệt để cả dạng phiền
não thứ ba vừa nói trên đây. Nói gì thì trong thực tế tu chứng, ta phải thấy rằng
Định (Samatha) có một tác dụng rất lớn trong việc đối phó Tham ái (rāga),
và Tuệ (Vipassanā) thì lại đặc biệt cần thiết trong việc đối phó Vô minh
(Avijja).
Hai phiền não này, dĩ nhiên, không rời nhau nên dù ta nhắm
vào cái nào thì cũng là nhắm đến cả hai. Do Vô minh mới có Tham ái và chính
Tham ái làm nền tảng nuôi dưỡng Vô minh. Do không biết mới thích, càng thích
thì cái không biết càng lớn. Do đó, Samatha và Vipassanā được xem là một cặp
công phu để dẹp bỏ thành trì phiền não mà chủ chốt là Tham ái, Vô minh.
NHỮNG ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI ĐỂ TU TẬP THIỀN TUỆ QUÁN
Có bốn điều kiện cần thiết để thành tựu Tuệ Quán:
Điều kiện về chỗ ở:
Hành giả nên tránh những trú xứ có hại đến sức khỏe và nhu cầu
tu tập, như thời tiết quá khắc nghiệt, độc trùng, ác thú, người xấu, kể cả sự
vãng Iai thường xuyên của thiên hạ, chọn nơi yên tịnh an tâm tu tập.
Điều kiện về ẩm thực:
Trong thực phẩm thường ngày cần tránh những thức
ăn có thể gây bệnh, dị ứng với
mình về màu sắc, mùi vị. Tu hành phải thanh đạm, nhưng ăn uống
cẩu thả là điều không tốt. Ăn uống không ổn thì sức khỏe sẽ không ổn, từ đó khả
năng tu tập cũng sẽ có vấn đề.
Điều kiện về đề mục:
Hành giả nên chọn đề mục Tuệ Quán phù hợp với mình tùy theo
cơ tánh đã trình bày ở trên.
Điều kiện về nhân sự:
Hành giả nên chọn Thầy bạn đồng trú giúp mình phát triển định
tâm và trí tuệ qua nếp sống hay ngôn ngữ của họ. Hành giả cần biết hạn chế tối
đa giao tiếp không cần thiết với thế giới chung quanh như:
- Ưu
tiên sống một mình, tránh tiếp xúc, ngoại giao.
- Hạn
chế tối đa nói chuyện, nếu thật sự cần nói thì phải cố gắng nói trong
chánh niệm.
- Ngủ
nghỉ ở mức độ cần thiết để tránh tâm biếng nhác.
- Hạn
chế làm những việc không thật cần thiết. Tất cả thời gian cần được dành trọn
cho việc ghi nhận trọn vẹn thân tâm từng giây phút hiện hữu trong hình thức
Tam Tướng (Vô Thường, Khổ, Vô Ngã).
Nhận xét
Đăng nhận xét