BUDDHA - BÀN THA LỰC
Đức Phật dạy: “Hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác”1. Ngài cũng nhấn mạnh rằng con người là chủ nhân của nghiệp, là thai tạng của nghiệp. Nếu một người tạo những nghiệp xấu ác sẽ sinh về cảnh giới khổ não, ngược lại, nếu hành nghiệp lành sẽ sinh vào cõi an vui.
Như vậy, cầu nguyện chư Phật, chư Bồ-tát gia hộ phải chăng
chỉ là liều thuốc an thần, để xoa dịu sự lo âu sợ hãi của chúng sinh! Tha lực
trong Phật giáo là một khái niệm dễ bị hiểu lầm. Bởi vì nếu hiểu theo thông thường
thì sẽ trái ngược với giáo lý nhân quả, nghiệp báo.
Tha lực không phải là sự ban phước của thần linh
Khái niệm tha lực được đề cập khá sớm trong kinh Na
Tiên Tỳ-kheo (có tên Mi Tiên vấn đáp, một kinh văn hậu
tác, hình thành sau Phật Niết-bàn, được nhập tạng). Trong những cuộc vấn đáp giữa
vua Di-lan-đà và Tỳ-kheo Na Tiên, có lần vua hỏi như sau:
- Sa-môn các ngài dạy rằng: Người ta dù làm đủ các điều ác,
cho đến khi trăm tuổi, lúc sắp chết quay lại niệm Phật. Như vậy sau khi chết liền
được sinh lên cõi trời. Trẫm không tin điều ấy. Lại còn nói rằng: Chỉ cần giết
hại một sinh mạng, khi chết phải đọa vào địa ngục. Trẫm lại càng không thể tin
được!
Na Tiên mượn hình ảnh một hòn đá thả vào nước sẽ chìm nhưng
cả trăm hòn đá to đặt lên thuyền thì cả thuyền và đá đều không chìm xuống nước.
Na Tiên nói:
- Hàng trăm hòn đá to nhờ có chiếc thuyền nên không bị chìm.
Người ta cũng vậy, tuy có làm các điều ác, nhưng nhờ biết hồi tâm niệm Phật,
nên không bị đọa vào địa ngục. Sau khi chết được sinh lên cõi trời. Chỉ một hòn
đá nhỏ rơi xuống nước tất phải chìm, cũng như người làm việc ác nhưng không được
học biết kinh Phật. Sau khi chết nhất định phải đọa vào địa ngục2.
Tha lực là năng lực từ bên ngoài, chủ yếu dùng để chỉ năng lực
từ bi cứu độ của chư Phật, Bồ-tát. Khái niệm này thường thấy trong tư tưởng của
Phật giáo Đại thừa, thể hiện rõ ở tinh thần Bồ-tát hạnh. Tuy nhiên, nhiều kinh
điển Đại thừa thường mô tả vị Bồ-tát với đầy đủ thần lực để cứu độ chúng sinh
đang khổ nạn, điều này góp phần biến tinh thần phụng sự của Đại thừa trở thành
nơi nương tựa cho tín đồ, hình thành tín ngưỡng tôn giáo. Chủ trương của Phật
giáo Đại thừa là dùng trí tuệ để hướng dẫn chúng sinh dứt trừ phiền não, theo
thời gian một bộ phận tín đồ chỉ nương theo Phật, Bồ-tát để cầu nguyện, mong được
ban ơn. Mỗi khi hoạn nạn, họ đều đến chùa cầu cúng và phó thác đời mình cho Phật
và chư vị Bồ-tát, thái độ và ứng xử này không phù hợp với tinh thần tự lực của
Phật giáo.
Nói thế không phải phủ nhận sự tha lực. Đức Phật xuất hiện
giữa thế gian này chỉ duy nhất một mục đích là hướng dẫn chúng sinh đến bến bờ
giải thoát. Tất cả các pháp môn tu tập đều là phương tiện để giải thoát phiền
não khổ đau. Nếu không vì mục đích giải thoát thì dù thực hành pháp môn gì đều
không phải chánh đạo. Do đó, tha lực ở đây chính là sự tác động của chư Phật, Bồ-tát
giúp chúng sinh thoát khổ phiền não chứ không phải để đáp ứng những tham vọng của
chúng sinh.
Tha lực từ Đức Phật
Tuy khái niệm tha lực xuất hiện về sau, nhưng những câu chuyện
về tha lực lại thấy rõ ràng ngay trong thời Phật tại thế. Dễ dàng thấy yếu tố
tha lực qua câu chuyện Đức Phật hóa độ tướng cướp Aṅgulimāla3.
Aṅgulimāla vốn là một thanh niên thông minh, hiền lành nhưng
vì lầm tin người thầy của mình nên tìm cách sát hại 1.000 người để được giải
thoát. Đối tượng cuối cùng của tên cướp chính là mẹ của mình. Sáng hôm ấy, Đức
Thế Tôn nhập định, biết nhân duyên đã đến, Ngài liền đi vào rừng để hóa độ.
Ngay khi nhìn thấy hình dáng vị Sa-môn, Aṅgulimāla liền thay đổi mục tiêu, cầm
gươm đuổi theo Ðức Phật. Aṅgulimāla đã cố chạy đuổi theo hết sức lực mà vẫn
không thể nào bắt kịp được vị Sa-môn đang từng bước khoan thai trên con đường vắng
vẻ trước mặt. Kiệt sức, hắn lên tiếng gọi Đức Phật dừng lại.
Đức Phật nhẹ nhàng đáp:
- Ta đã đứng lại rồi, này Aṅgulimāla! Và ngươi hãy đứng lại!
Aṅgulimāla liền hỏi Ðức Phật rằng:
- Rõ ràng ông đang đi mà lại nói: Như Lai đã dừng lại lâu rồi!
Còn tôi thì đã dừng chân rồi nhưng ông lại nói “Ngươi hãy đứng lại”, nghĩa là
sao?
- Này Aṅgulimāla, thật vậy, Như Lai đã dừng lại lâu rồi.
Nghĩa là Như Lai đã từ bỏ sự sát hại tất cả chúng sinh từ lâu rồi; còn ông chưa
từ bỏ sự sát hại. Vì vậy, Như Lai mới nói: “Chính ông mới là người chưa chịu dừng
lại”.
Aṅgulimāla vừa nghe xong liền tỉnh thức, ném gươm xuống hố
sâu bên sườn núi, và bạch rằng:
- Kính bạch Ðức Thế Tôn, Ngài là bậc xứng đáng lễ bái cúng
dường của chư thiên, Phạm thiên và nhân loại, với tấm lòng đại bi, Ngài đến khu
rừng này để tế độ cho con thoát khỏi si mê lầm lạc, giúp cho con có được trí tuệ
sáng suốt, để đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc lâu dài cho con. Mong
Ngài minh chứng sự thành tâm sám hối tội lỗi này và nhận con làm đệ tử.
Nếu không có sự xuất hiện của Thế Tôn, Aṅgulimāla sẽ tiếp tục
tạo ác nghiệp, thậm chí phạm vào đại trọng tội là sát hại mẹ của mình. Thế
nhưng với bài pháp ngắn, Đức Phật đã đưa Aṅgulimāla về với Chánh pháp. Tất
nhiên, những nghiệp xấu đã tạo ra đó, Aṅgulimāla vẫn phải chịu quả báo tương ứng.
Sự xuất hiện của Thế Tôn là một nhân duyên tốt, còn sự giải thoát của Aṅgulimāla
là chính nơi tu tập của bản thân. Nếu trong lúc gặp gỡ, Aṅgulimāla không thay đổi
nhận thức thì Đức Phật không thể giúp gì hơn. Cho nên Đức Phật dẫu biết tất cả
căn tánh và những việc lâu xa cùng tột ức kiếp của chúng sinh nhưng Ngài không
thể hóa độ chúng sinh không có duyên với Ngài4.
Pháp môn niệm Phật cầu vãng sinh không phải là cầu xin sự
cứu rỗi của Phật A Di Đà. Người niệm Phật thực chất đang tạo dựng mối duyên
lành với Ngài, từ đó hỗ trợ cho con đường tu tập của chính mình. Lòng từ bi của
Đức Phật là vô biên, Ngài không bỏ mặc bất kỳ chúng sinh nào trong vòng luân hồi
sinh tử. Tuy nhiên, mỗi chúng sinh cần nỗ lực tu tập để cảm nhận và hòa mình
vào năng lượng từ bi đó.
Hiểu theo cách như vậy thì có vô số người nhận tha lực từ Đức
Phật và các vị Thánh đệ tử, nhưng đó là những người đủ duyên lành sinh ra trong
thời Phật hoặc gần với Phật. Còn với chúng ta, cách xa thời đại của Phật thì có
nương nhờ tha lực được không?
Theo Paul Williams, khi người tu hành đạt được niềm tin vững
chắc, luôn giữ chánh niệm và tỉnh giác, trí tuệ và công đức cũng nhờ đó mà phát
triển. Lúc này, họ cảm nhận sâu sắc sự hiện diện sống động của Đức Phật, như
Ngài đang trực tiếp dẫn dắt trên con đường tu tập, đồng thời hình ảnh tôn thờ của
Ngài cũng trở nên vô cùng chân thực. Với nhận thức sâu sắc này, bất cứ khi nào
tâm khởi lên những vọng niệm, hành giả đều cảm thấy hổ thẹn, như thể đang đối
diện trực tiếp với Đức Phật. Thậm chí, ngay cả khi trở lại với cuộc sống thường
nhật, rời khỏi trạng thái tu tập tâm linh, sự an lạc vẫn tiếp tục lan tỏa và
duy trì trong đời sống của họ5. Như vậy, dù chúng ta không có cơ
duyên được Đức Thế Tôn trực tiếp giáo hóa, nhưng nhờ vào niềm tin kiên cố và sự
thực hành chân chính giáo pháp của Ngài, đặc biệt là các pháp quán tưởng và niệm
Phật, chúng ta vẫn có thể tiếp nhận được nguồn tha lực từ Đức Phật.
Cũng vậy, pháp môn niệm Phật cầu vãng sinh không phải là cầu
xin sự cứu rỗi của Phật A Di Đà. Người niệm Phật thực chất đang tạo dựng mối
duyên lành với Ngài, từ đó hỗ trợ cho con đường tu tập của chính mình. Lòng từ
bi của Đức Phật là vô biên, Ngài không bỏ mặc bất kỳ chúng sinh nào trong vòng
luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, mỗi chúng sinh cần nỗ lực tu tập để cảm nhận và
hòa mình vào năng lượng từ bi đó. Nên trong kinh nói: “Không thể lấy ít
căn lành phước đức nhơn duyên mà được sinh sang nước đó”6.
Thiện Đạo, vị Tổ sư của Tịnh Độ tông được tôn kính như hóa
thân của Phật A Di Đà tại Nhật Bản, cho rằng: Bên cạnh năm pháp môn chính yếu dẫn
đến vãng sinh Cực lạc (niệm Phật, tụng kinh, quán tưởng Phật, tôn thờ tượng Phật
và tán thán Phật) cần kết hợp thực hành các pháp môn phụ trợ như lễ bái, sám hối
và làm thiện…. Việc chỉ niệm Phật mà thiếu đi lễ bái và sám hối giống như việc
đi trên con đường sỏi đá gập ghềnh. Ngược lại, nếu thực hành đầy đủ, con đường
tu tập sẽ trở nên bằng phẳng và thuận lợi hơn7. Ba tư lương quan trọng
của người thực hành pháp môn Tịnh Độ là Tín - Nguyện - Hạnh, nếu Tín là tin vào
tha lực của Đức Phật thì Nguyện và Hạnh chính là sự nỗ lực, tu tập tinh chuyên
của tự thân. Cho nên trong Phật giáo, tha lực và tự lực không mâu thuẫn nhau,
ngược lại còn hỗ tương nhau trong tu tập.
***
Nhiều người hiểu lầm rằng tha lực trong đạo Phật là dựa dẫm,
trái ngược với việc tự mình cố gắng. Nhưng không phải vậy! Tha lực trong Phật
giáo Đại thừa không phải là liều thuốc an thần hay ảo tưởng xoa dịu khổ đau.
Trái lại, nó là sức mạnh hỗ trợ, khơi dậy tiềm năng tự lực bên trong mỗi người,
giúp chúng ta thăng tiến trên con đường tâm linh.
------------------------------
1 HT.Thích Minh Châu dịch, Kinh Trường
bộ, 16. Kinh Đại bát Niết-bàn, NXB Tôn Giáo, Hà Nội,
2013, trang 298.
2 Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến (Việt dịch
và chú giải), Kinh Tỳ-kheo Na Tiên, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2011,
trang 112-113.
3 HT.Thích Minh Châu (dịch), Kinh
Trung bộ 2, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2012, trang 126. Xem thêm tác phẩm Ngàn
xưa hương bối của Minh Đức Triều Tâm Ảnh, NXB Văn Học, 2015, trang 55.
4 Tam bất năng (Ba điều Đức Phật không làm
được): Diệt định nghiệp của chúng sinh, hóa độ chúng sinh vô duyên, độ tận thế
giới chúng sinh.
5 Paul Williams, Thích Thiện Chánh (dịch), Nền
tảng Phật giáo Đại thừa, NXB Thuận Hóa, 2022, trang 369.
6 Trích Kinh A Di Đà: “Bất khả
dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên đắc sinh bỉ quốc”.
7 Kenneth Ch’en, Thích Thiện Chánh (dịch), Khảo
sát lịch sử Phật giáo Trung Quốc, NXB Thuận Hóa, 2023, trang 451.
Nhận xét
Đăng nhận xét