ĐẠO - TRIẾT HỌC - NHỮNG VẤN ĐỀ CĂN BẢN

 KHỔ VÀ GIẢI THOÁT KHỔ

Nếu phân tích theo cấu trúc vấn đề của triết học Phương Tây thì đó chính là :

  • Bản thể luận Duyên khởi , Tính không , Vô thường
  • Nhận thức luận Trung đạo , Nội quán , Trực giác Bác nhã
  • Nhân sinh luận Vô ngã , Vị tha , Tứ Diệu Đế , Thập Nhị Nhân Duyên , Bát Chánh Đạo , A La Hán , Bồ Tát ...

Từ những vấn đề cơ bản của triết hoc đó , Phật giáo có đối tượng , mục đích , phương pháp và nội dung không giống với các tôn giáo và triết học khác nhau , nhất là so với triết học phương Tây

  • Mục đích là giải thoát chúng sinh khỏi khổ
  • Đối tượng là nắm bắt được bản chất Không , Vô ngã , Vô thường của tồn tại
  • Phương pháp là nội quán , trở vào bên trong , không chấp vào ngôn ngữ , kinh nghiệm , nhằm làm bừng sáng trực sáng
  • Nội dung luôn luôn kết hợp đồng thời 3 phương diện : Giới ( đạo đức ) , Định ( thực hành có niềm tin ) , Tuệ ( thông thái , minh triết )
  • Có thể nhìn mô hình triết học đó là sự kết hợp 3 lĩnh vực : đạo đức + tôn giáo + nhận thức

Phật giáo trở thành trở thành một thành tố trong tư tưởng tam giáo ( Nho-Phật-Lão )

Thiền là một đặc trưng riêng với những ý nghĩa được trân trọng và thể hiện thành lối sống , nghệ thuật , văn minh , tư duy ...vừa có ý nghĩa nhân văn vừa mang ý nghĩa giải thoát độc đáo , làm phát huy phẩm chất nhân văn , trí tuệ , đạo đức của con người còn tiềm ẩn

BẢN THỂ LUẬN

Phật giáo cho rằng các sự vật và hiện tượng , cũng như con người là không có thực , là ảo giả do vô minh đem lại . Thế giới ( nhất là thế giới hữu sinh - con người ) được cấu tạo do sự tổng hợp của các yếu tố vật chất ( sắc ) và tinh thần ( danh ) . Danh và sắc được chia làm 5 yếu tố ( gọi là ngũ uẩn )

Danh và sắc chỉ hội tụ với nhau trong một thời gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác . Cho nên , không có cái tôi ( vô ngã ) . Bản chất tồn tại của thế giới là một dòng biến chuyển liên tục ( vô thường ) , không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên và không thể có cái vĩnh hằng

Thế giới ( sự vật và hiện tượng ) luôn biến đổi theo chu trình : Sinh - Trụ - Dị - Diệt ( hoặc : Thành - Trụ - Hoại - Không ) theo luật nhân quả . Khái niệm "Duyên " của Phật giáo được coi vừa là kết quả ( quá trình cũ ) và là nguyên nhân ( quá trình mới )

NHÂN SINH QUAN

Phật giáo bác bỏ Brahma ( Thần sáng tạo ) và Atman ( cái tôi ) nhưng lại tiếp thu tư tưởng luân hồi và nghiệp của Upanishad . Mục đích cuối cùng của Phật giáo là tìm ra con đường giải thoát đưa chúng sinh ra khỏi vòng luân hồi bất tận . Để đi tới giải thoát , Phật nêu lên " Tứ Diệu đế " tức là bốn chân lý tuyệt diệu , thiêng liêng mà mọi người phải nhận thức được

  • Khổ đế : Phật giáo cho rằng cuộc đời là bể khổ , bao gồm 8 thứ khổ, gọi là " Bát khổ " : (1) Sinh (2) Lão (3) Bịnh (4) Tử (5) Thụ biệt ly : yêu thương nhau phải xa nhau (6) Oán tăng hội : ghét nhau phải hội tụ với nhau (7) Sở cầu bất tắc : Muốn mà không được (8) Thủ ngũ uẩn : Khổ vì có sự tồn tại của thân xác
  • Nhân đế : còn gọi là tập đế , vì cho rằng mọi cái khổ đều có nguyên nhân . Đó là 12 nhân duyên , còn gọi là " Thập nhị nhân duyên " :
    • (1) Vô minh là không sáng suốt , không nhận thức được thế giới , sự vật và hiện tượng đều là ảo giả mà cứ cho đó là thực . Thế giới ( sự vật , hiện tượng ) đều do các Duyên hoà hơp với nhau tạo nên
    • (2) Duyên lành là hoạt động của ý thức , sự giao động của tâm , của khuynh hướng , và đã có mầm mống ( manh nha ) của nghiệp
    • (3) Duyên thức là tâm thức từ chỗ trong sáng cân bằng trở nên ô nhiễm mất cân bằng . Cái tâm thức đó tuỳ theo nghiệp lực mà tìm đến các nhân duyên khác để hiện hình , thành ra một đời khác
    • (4) Duyên danh - sắc là sự hội tụ của các yếu tố vật chất và tinh thần
    • (5) Duyên lục nhập là quá trình tiếp xúc với lục trần ( lục căn : cơ quan cảm giác , lục trần : sắc , thanh , hương , vị , xúc , pháp )
    • (6) Duyên xúc là sự tiếp xúc giữa lục căn , lục trần
    • (7) Duyên thụ là cảm giác do tiếp xúc mà nảy sinh ra yêu ghét buồn vui
    • (8) Duyên ái là yêu thích , ở đây chỉ sự nảy sinh dục vọng
    • (9) Duyên thủ muốn giữ lấy , chiếm lấy
    • (10) Duyên hữu là xác định chủ thể chiếm hữu ( cái ta ) thì phải tồn tại ( hữu ) tức là đã có hành động tạo nghiệp
    • (11) Duyên sinh đã có tạo nghiệp , tức là nghiệp nhân ắt có nghiệp quả
    • (12) Duyên lão - tử : có sinh tất có già và chết đi . Sinh lão tử là kết quả cuối cùng của một quá trình , nhưng đồng thời cũng là nguyên nhân của một kiếp trong vòng luân hồi mới
  • Diệt đế là khẳng định cái khổ có thể tiêu diệt được , có thể chấm dứt được luân hồi
  • Đạo đế : tu để thành Phật quả , nhập được Niết Bàn là quả cao nhất của người tu Phật và cũng là mục đích duy nhất của Phật học .
  • Nhưng vì nghiệp lành dữ không giống nhau , tri thức không đều nhau mà Phật giáo chia các pháp môn thành 5 loại gọi là năm thừa . Khái quát tất cả các môn pháp trên chúng ta có thể coi con đường giải thoát , diệt khổ của Phật giáo bao gồm 8 con đường ( Bát đạo chính )
    • (1) Chính kiến : Hiểu biết đúng đắn nhất là Tứ diệu đế
    • (2) Chính tư duy : Suy nghĩ đúng đắn
    • (3) Chính ngữ : Giữ lời nói chân chính
    • (4) Chính nghiệp : Nghiệp có tà nghiệp và chính nghiệp
      • Tà nghiệp : phải giữ giới
      • Chính nghiệp : Thân nghiệp - Khẩu nghiệp - Ý nghiệp
    • (5) Chính mệnh : Phải tiết chế dục vọng và giữ giới (giữ các điều răn)
    • (6) Chính tinh tiến : Phải hăng hái , tích cực trong việc tìm kiếm và truyền bá Phật giáo
    • (7) Chính niệm : Phải thường xuyên nhớ Phật , niệm Phật
    • (8) Chính định : Phải tĩnh lặng , tập trung tư tưởng mà suy nghĩ về tứ diệu đế , về vô ngã , vô thường và nỗi khổ
  • Với Bát chánh đạo con người có thể diệt trừ được vô minh . giải thoát và nhập vào Niết Bàn là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh , sáng suốt , chấm dứt sinh tử luân hồi
    • Phương pháp bố thí , tuỳ tâm sở dục

      Duy pháp sở sanh , duy tâm sở hiện ( tâm và vật là một )

    • Chân thật tin tưởng " Phật thị môn trung , hữu cầu tất ứng "

37 PHẨM TRỢ ĐẠO GỒM NHỮNG GÌ ? 

Chánh Pháp gồm 37 phẩm này giúp chúng ta đạt được " đạo " bằng trí tuệ, bằng sự quán chiếu , nhận thức được chân lý chứ không phải chỉ bằng niềm tin đơn giản mà thôi

NGHIỆP theo quan điểm PHẬT giáo là gì ?

  • Tứ niệm xứ (4)
  • Tứ như ý túc (4)
  • Tứ chính cần (4)
  • Ngũ căn (5)
  • Ngũ lực (5)
  • Thất bồ đề phần (7)
  • Bát chánh đạo (8)

TỨ NIỆM XỨ

Là bốn chổ cần quán niệm luôn luôn

  • Quán thân bất tịnh , nghĩa là luôn luôn nhớ rằng thân xác tư đại này chứa toàn những thứ nhơ nhớp , những thứ bất tịnh bên trong
  • Quán thọ thị khổ , nghĩa la luôn luôn nhớ rằng thọ nhận nhiều cảm giác, nhiều tự ái , ai nói gì cũng chấp nhặt , thì tức nhiên là khổ
  • Quán tâm vô thường , nghĩa là luôn luôn nhớ rằng tâm ý con người đổi thay vô thường , không cố định , nay vầy mai khác , chớ có chấp chặt làm chi cho khổ
  • Quán pháp vô ngã , nghĩa là luôn luôn nhớ rằng mọi sự việc trên thế gian đều không nhứt định , không cố định . Thí dụ những quan niệm chồng chúa vợ tôi , trọng nam khinh nữ , chỉ đúng ở thời đại nào đó mà thôi , không có thực thể cố định , không đúng với mọi thời gian , không đúng với mọi không gian

TỨ CHÍNH CẦN

Là bốn việc luôn luôn chuyên cần , chăm chỉ thực hành một cách chân chính .

  • Đối với việc bất thiện đã sinh , phải trừ dứt hẳn
  • Đối với việc bất thiện chưa sinh , đừng cho sinh ra
  • Đối với việc thiện chưa sinh , làm cho tăng trưởng

TỨ NHƯ Ý TÚC

Là bốn pháp thiền định , hay là bốn phương tiện đưa chúng ta đến chỗ như ý muốn , thành tựu viên mãn . Đó là : dục , cần , tâm , quán

Nghĩa là: chúng ta phải có lòng thiết tha mong muốn , tìm cầu sự giải thoát, chúng ta phải chuyên cần tinh tấn học hiểu giáo lý, phải khắc chế tâm niệm đến chỗ bất loạn, quán chiếu giác ngộ chân lý , thấu hiểu lẽ thực

NGŨ CĂN

Là năm pháo căn bản sinh ra các việc thiện . Đó là : tín , tấn , niệm , định , tuệ

Nghĩa là chúng ta phải có niềm tin sâu xa , vững chắc nơi Chánh Pháp vô lượng , tinh tấn tu tâm dưỡng tánh không hề biết mệt mỏi , luôn luôn có tâm niệm hiền thiện , từ bi hỷ xả , luôn luôn giữ sự bình thản , tỉnh thức , thiền định , bất loạn và luôn luôn dùng trí tuệ để suy xét mọi sự mọi việc , không tin tưởng bừa bãi , không mê tín dị đoan

4 LOẠI NGHIỆP LỰC CHI PHỐI TÁI SINH CỦA CON NGƯỜI

NGŨ LỰC

Là năm sức mạnh do năm pháp căn bản nói trên thành tựu được

Nghĩa là do tín lực chúng ta có niềm tin kiên cố , mạnh mẽ nơi Chánh Pháp , do tấn lực chúng ta có sức mạnh tinh thần bất thối chuyển , san bằng những trở ngại trên đường tu tập , do niệm lực chúng ta luôn luôn ghi nhớ những thiện pháp , do định lực chúng ta có được sự tập trung tư tưởng , và do tuệ lực chúng ta giác ngộ được con đường giải thoát sanh tử luân hồi

THẤT BỒ ĐỀ PHẦN

Còn gọi là " thất giác chi " , là bảy phần hiểu biết , bảy điều dẫn đến chỗ giác ngộ

Đó là : trạch pháp , tinh tấn , hoan hỷ , khinh an , niệm , định , xã

  • Trạch pháp là tâm mạnh mẽ dứt trừ tất cả các nghiệp bất thiện , thực hành tất cả các nghiệp thiện
  • Tinh tấn là tâm mạnh mẽ dứt trừ tất cả các nghiệp bất thiện , thực hành tất cả các nghiệp thiện
  • Hoan hỷ là tâm luôn luôn vui vẻ với mọi người , với mọi việc trên thế gian , không phân biệt gì cả , để tất cả chúng sanh đểu hỷ kiến
  • Khinh an là tâm nhẹ nhàng , an lạc khi dứt trừ các phiền não , các cố chấp nặng nề , thoát ra ngoài vòng tục luỵ của thế gian
  • Niệm là tâm luôn luôn nhớ nghĩ đến chư Phật , đến tất cả chúng sanh , vì tâm từ bi hỷ xả mà hành trì giới luật , làm các việc phước thiện
  • Định là tâm luôn luôn bình thản , không tán loạn , an nhiên , tự tại
  • Xã là tâm buông bỏ tất cả những hệ luỵ của cuộc đời , tất cả những thành kiến , định kiến , thiên kiến , biên kiến , tà kiến , ác kiến , thường kiến , đoạn kiến , không chấp chặt những tư tưởng chật hẹp , ích kỷ

BÁT CHÁNH ĐẠO

Là con đường gồm tám điều chân chánh , dẫn đến mục đích cứu kính của đạo Phật : giác ngộ và giải thoát

Đó là : chánh kiến , chánh tư duy , chánh ngữ , chánh nghiệp , chánh mạng, chánh tinh tấn , chánh niệm , chánh định

  • CHÁNH KIẾN
    • Là sự hiểu biết chân chánh , chẳng hạn như hiểu biết về lý nhân quả, lý nhân duyên , lý duyên khởi , trùng trùng duyên khởi . Sự hiểu biết này không bị chi phối bởi thành kiến , định kiến , tà kiến , ác kiến , thiên kiến , biên kiến , đoạn kiến , thường kiến . Người có chánh kiến là người thấy mọi sự mọi việc " đúng như thực "
    • Trong kinh A Hàm , Đức Phật có dạy :
    • " Hãy đến với đạo Phật để thấy đúng như thực , chứ không phải chỉ đến để mà tin "
    • Thấy đúng như thực nghĩa là sao ?
    • Nghĩa là mọi sự việc đều có nguyên nhân
    • Thí dụ khi thấy một cái cây mọc lên , chúng ta biết ngay là do hạt nhân nẩy mầm , không phải tự nhiên mà có . Khi được bình an , sung sướng , chúng ta hiểu đang hưởng phước . Khi gặp tai nạn trắc trở chúng ta hiểu là đang đền trả quả báo . Tất cả việc phước hay hoạ là quả của nhân , do chúng ta gieo trước đây , đời trước hay đời này , chứ không do ông trời nào ban phước giáng hoạ bừa bãi cả . Đó là nhân quả
    • Mọi sư việc do nhân duyên sinh và cũng di nhân duyên diệt . Một cuốn sách do các nhân duyên có người viết , có giấy mực , có thợ in ấn , có thợ đóng bìa mà hình thành . Đến khi do các nhân duyên bị mối mọt ăn , bị lửa đốt , bị thấm nước , cuốn sách đó bị huỷ hoại . Cuốn sách không phải tự nhiên mà có , không phải tự nhiên mà mất! Đó là lý nhân duyên
    • Mọi sự việc không phải tự nhiên mà phát khởi . Có người hỏi thì mới có người đáp . Có người ăn quà mới có người bán quà . Có người bán quà mới có người ăn quà . Có chửi mắng người mới bị ăn bạt tai . Có chơi xấu người mới bị người chơi xấu . Có gió mới có sóng . Có sinh sự thì sự mới sinh . Có chuyện này xảy ra , mới có chuyện kia xảy ra , rồi có chuyện nọ xảy ra tiếp theo , cứ như thế liên tục không bao giờ dứt . Đó là lý duyên khởi , trùng trùng duyên khởi .
  • CHÁNH TƯ DUY
    • Là sự suy nghĩ chân chánh , theo đúng lẽ thực , không lợi mình hại người . Sự suy nghĩ này không bị chi phối bởi chánh kiến , định kiến , thiên kiến , biên kiến , tà kiến , ác kiến , đoạn kiến , thường kiến .
    • Trong Kinh A Hàm , Đức Phật có dạy :
    • Không nên tin ngay tất cả những gì người xưa nói , tất cả những gì người có thế lực đạo cũng như đời nói , tất cả những gì người bề trên nói , tất cả những gì có nhiều người tin theo , có ghi trong sách vở
    • Chỉ nên tin những gì có thể kiểm nghiệm được , đúng với chân lý , đúng với lẽ thực , thông qua trí tuệ sáng suốt , thấy có ích lợi cho bản thân và cho mọi người
    • Bởi vật , Đức Phật dạy ba môn học phát sinh trí tuệ, đó là : " Văn - Tư - Tu " . Nghĩa là chúng ta hãy nghe giảng , hãy đọc sách , hãy nghiên tầm , hãy học hỏi , rồi suy nghĩ , tư duy , quán chiếu cho chín chắn , thấu đáo , trước khi thực hành , tu tập theo
  • CHÁNH NGỮ
    • Là lời nói chân chánh , không lợi mình hại người , không thêu dệt , gây hiềm khách giữa các cá nhân hay tập thể , không xu nịnh , không trái lẽ thực , không thiên vị .Lời nói này dễ nghe , đem lại niềm vui cho kẻ khác , không bị chi phối bởi ác kiến , thành kiến , biên kiến , đoạn kiến , thường kiến . Người có chánh ngữ là người không nói những lời khiến lẻ khác đau khổ , phải xức dầu cù là , phải uống thuốc nhức đầu , dù cho họ là người thân hay kẻ thù hoặc bất cứ ai chăng nữa ! Người có chánh ngữ là người biết giữ chữ tín , được lòng tin yêu của mọi người . Khi cần nói , chỉ nói pháp vô sanh , không nói pháp sanh diệt , thị phi
  • CHÁNH NGHIỆP
    • Là hành động tạo nghiệp chân chánh , không mưu cầu lợi mình hại người . Dù cho người có hành động không tốt đối với mình , chúng ta cũng không có hành động trả đũa , vì làm như vậy chúng ta đâu có khác gì hơn người . Người ta viết báo chửi bới , vu cáo , bôi nhọ , nhục mạ , phỉ báng . Chúng ta biết đó là hành động không chân chánh , thì chúng ta đừng làm y như vậy đối với người
    • Trong Kinh A Hàm , Đức Phật có dạy :
    • " Tam nghiệp hằng thanh tịnh. Đồng Phật vãng Tây Phương "
    • Nghĩa là giữ gìn ba nghiệp thân khẩu ý chân chánh , thanh tịnh , thì chúng ta theo chư Phật về cảnh giới Tây Phương cực lạc mà an hưởng
  • CHÁNH MẠNG
    • Là mạng sống , cuộc sống chân chánh . Nghĩa là chúng ta chỉ làm những nghề chân chánh , không xâm phạm mạng người , tổn hại mạng vật để sinh sống .
    • Người có chánh mạng là người sống cuộc đời ý nghĩa , lợi mình lợi người , không lường gạt ai , không ăn không ngồi rồi , không sống bám vào kẻ khác , không sống bám vào xã hội , luôn luôn có tâm niệm phục vụ chúng sanh là cúng dường chư Phật
  • CHÁNH TIN TẤN
    • Là sự siêng năng , chuyên cần , chăm chỉ chân chánh , tức là làm tất cả những việc thiện và tránh tất cả việc bất thiện , luôn luôn tu tâm dưỡng tánh , không lúc nào ngơi nghỉ , mệt mỏi , buông lung hay thối tâm . Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn , Đức Phật có dạy :
    • " Chư ác mạc tác . Chúng thiện phụng hành . Tự tịnh kỳ ý . Thị chư Phật Giáo "
    • Trong kinh sách , tượng trưng cho sự siêng năng , tinh tấn một cách dũng mãnh , vượt ngoài ý chí tầm thường của thế gian , đó là Bồ Tát Đại Thế Chí
  • CHÁNH NIỆM
    • Là luôn luôn khắc chế tâm niệm bên trong , bên ngoài luôn luôn tránh sự đấu tranh , cãi vã . Chư Tổ có dạy :
    • " Nội cần khắc niệm chi công . Ngoại hoằng bất tranh chi đức "
    • Nghĩa là con đường có công phu tu tập , cố gắng dẹp bỏ tạp niệm trong tâm , con người có đức độ bên ngoài luôn luôn từ tốn , lễ độ , nhã nhặn , hiền hoà . Người có chánh niệm là người luôn luôn biết rõ ràng mình đang làm gì , đang nói gì , đang nghĩ gì , luôn luôn sống trong tỉnh thức , nhận biết ngay mỗi khi vọng niêm dấy khởi và không theo , luôn luôn nhớ và sống theo lời Phật dạy , luôn luôn sống với Chân Tâm Phật Tánh , tức là với Bản Tâm Thanh Tịnh
    • DUYÊN LỚN CÓ THỂ CHUYỂN NGHIỆP , DUYÊN NHỎ KHÔNG THỂ CHUYỂN NGHIỆP
  • CHÁNH ĐỊNH
    • Là sự bình tĩnh sáng suốt , do tam nghiệp thanh tịnh , do quán tâm từ bi để dẹp trừ lòng sân hận , mở rộng tình thương , do quán thân bất tịnh để dẹp trừ lòng tham ái , do quán lý nhân duyên để dẹp trừ lòng si mê , ngã chấp và pháp chấp , do quán giới phân biệt để khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần , không khởi sáu thức , không sinh vọng niệm và do quán sổ tức , đếm hơi thở ra thở vào , để dẹp trừ tâm loạn động , tâm lăng xăng lộn xộn
    • Người có chánh định do giữ gìn giới luật , sẽ phát sanh trí tuệ bát nhã , đưa đến giác ngộ và giải thoát . Đó là tam vô lậu học " Giới - Định - Tuệ " .
    • Ngoài ra , chúng ta cũng đã biết dù khởi niệm thiện hay bất thiện cũng đều dẫn đến đau khổ , bởi vì vẫn còn kẹt hai bên , tức là nhị biên , người đời gọi là hai thái cực
    • Cho nên , Đức Phật dạy " Pháp Môn Bất Nhị " , giúp chúng ta lặng hết những tâm niệm dù thiện hay bất thiện , để không còn phiền não và khổ đau , để được an lạc và hạnh phúc , để được về cõi tây phương cực lạc , để được giác ngộ và giải thoát
    • Tóm lại, chúng ta biết những điều Đức Phật chứng ngộ và giảng dạy , được gọi là Chánh Pháp ghi trong các kinh điển , ví như các bản đồ giúp nhân loại biết phương pháp tu tập , để được giác ngộ và giải thoát , để được cuộc sống an lạc và hạnh phúc hiện đời .
    • Chánh Pháp không dành riêng cho bất cứ ai , dù là Phật Tử hay không , dù là tu sĩ xuất gia hay cư sĩ tại gia . Mặc dù có người thờ phượng Đức Phật ,tin tưởng Đức Phật mà không học hiểu Chánh Pháp , không áp dụng Chánh Pháp thì cũng không ích lợi gì hiện đời cả
    • Chư Tổ có dạy :
    • " Tu mà không học là tu mù , học mà không tu là đãy sách "
    • Nghĩa là muốn hưởng an lạc và hạnh phúc , muốn được giác ngộ và giải thoát , chúng ta phải tu tập . Nhưng tu tập mà không chịu học hiểu Chánh Pháp cũng ví như người mù lại không có bản đồ , không người hướng dẫn , thì làm sao đi đến nơi đến chốn một cách an toàn được . Bản thân đã tu mù , không nghiên tầm giáo lý , kinh điển đại thừa , mà còn dẫn dắt người khác tu tập , thì quả là đại hoạ , là phỉ báng đạo Phật , là sư tử trùng thực sư tử nhục
    • Trái lại , Chánh Pháp để áp dụng , thực hành chứ không phải để nói suông , để thảo luận, để tranh cãi . Người chỉ lo học hiểu để thoả mãn kiến thức , mà không lo tu tập , không áp dụng vào đời sống hàng ngày , thì cũng chỉ có thể hiểu biết đến mức độ nào đó mà thôi , cũng ví như cái đãy , cái túi đựng sách có giới hạn vậy thôi . Những người đó cũng như những người đếm tiền trong ngân hàng, những người đếm bò cho chủ , trọn không có tiền và không có bò
  • Chúng ta cần cây đèn cho chính chúng ta , để giúp chúng ta tai qua nạn khỏi , để giúp chúng ta giác ngộ và giải thoát khỏi trầm luân , sanh tử luân hồi . Cây đèn do người khác trao cho có khi không được hữu dụng . Cây đèn luôn luôn hữu dụng đó phải là cây đèn của chính chúng ta . Cây đèn đó chính là trí tuệ bát nhã của tất cả mọi người chúng ta
LỤC CĂN - LỤC TRẦN - LỤC THỨC
  • LỤC CĂN
    • Vì chúng ta bị si mê nên tạo ra căn nghiệp và chính những nghiệp lực nầy đã lôi kéo chúng ta đi vào vòng luân hồi sanh tử.
    • Những nghiệp căn nầy đã dẫn dắt chúng ta trèo lên tuột xuống trong sáu nẽo luân hồi. Do đó nếu muốn hết sanh tử, thì chúng ta phải phá tan cái nghiệp nầy.
    • Nhưng muốn dứt bỏ được cái nghiệp, thì trước hết chúng ta phải chinh phục nơi tâm mình, và phải dẹp bỏ vọng tưởng. Nhưng từ trước đến giờ chúng ta thường hay lầm vọng tưởng là tâm của mình. Chính sự lầm lẫn sai lạc này nên các vọng tưởng dẫn chúng ta chạy ngược chạy xuôi không biết bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp.
    • Vậy vọng tưởng phát xuất từ đâu?
    • Khi thân tứ đại được phát sinh, thì Lục căn cũng dựa vào đó mà phát triển. Vậy thế nào là Lục căn? Căn là chỗ nương tựa, làm gốc cho những cái khác nẫy nở, tạo thành.
    • Lục căn thì gồm có:
      • ¨ Nhãn là mắt, dùng để nhìn.
      • ¨ Nhĩ là tai, dùng để nghe.
      • ¨ Tỷ là mũi, dùng để ngửi
      • ¨ Thiệt là lưỡi, dùng để nếm
      • ¨ Thân là da bọc thân người, dùng để nhận biết những cảm giác như nóng, lạnh.
      • ¨ Ý là tư tưởng, dùng để phân biệt
  • LỤC TRẦN
    • Chung quanh chúng ta có biết bao nhiêu là hiện tượng, vật thể, biến đổi không ngừng cũng như chi phối từ tư tưởng đến hành động của chúng ta từng giây từng phút và chúng ta gọi nó là “trần”.
    • Như thế, trần có nghĩa là buị, mà đã là bụị thì dơ bẩn và luôn luôn đổi dời. Trần ở đây cũng còn có nghĩa là phần vật chất, hay những cảnh vật chung quanh con người.
    • Chúng ta gom lại được 6 trần nên gọi là lục trần:
      • Sắc: là màu sắc, hình dáng.
      • Thanh: là âm thanh phát ra.
      • Hương: là mùi vị.
      • Vị: là chất vị do lưỡi nếm được.
      • Xúc: là cảm giác như cứng, mềm, nóng, lạnh.
      • Pháp: là những hình ảnh, màu sắc, hương vị được lưu lại từ 5 trần ở trên.
  • LỤC THỨC
    • Khi Lục căn (six sense organs) tiếp xúc với Lục trần (six sense objects), có nghĩa là: mắt thấy được hình ảnh nào, mũi ngửi được mùi thơm nào đó, lưỡi nếm được chất chua, cay hay ngọt, tai nghe được điệu nhạc êm đềm, thân thì cảm thấy đau đớn, hay lạnh lẽo, còn ý thì bắt đầu suy nghĩ, thì ký ức của chúng ta phát sinh ra sự phân biệt.
    • Và chính sự phân biệt, hiểu biết và phán đoán này được gọi là thức. Cũng như Lục căn, thức cũng có 6 thức nên thường được gọi là Lục thức (six sense of consciousness). Lục thức là sáu sự nhận biết của lục căn khi tiếp xúc với lục trần.
    • Do đó Lục thức gồm có: Nhản thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức.
      • Nhãn Thức: Cái biết của con mắt, về thức này nhãn căn khởi ra tác dụng phân biệt về sắc trần, nên gọi là nhãn thức.
      • Nhĩ Thức: Cái biết của lỗ tai, vì thức này nương nhĩ căn khởi ra tác dụng phân biệt về thinh trần nên gọi là nhĩ thức.
      • Tỷ Thức: Cái biết của lỗ mũi, vì thức này nương tỷ căn khởi ra tác dụng phân biệt về hương trần nên gọi là tỷ thức.
      • Thiệt Thức: Cái biết của lưỡi, vì thức này nương thiệt căn khởi ra tác dụng phân biệt về vị trần nên gọi là thiệt thức .
      • Thân Thức: Cái biết của thân, vì thức này nương thân căn khởi ra tác dụng phân biệt về xúc trần nên gọi là thân thức.
      • Ý Thức: Thức này nương ý căn (Thức thứ bảy) khởi ra tác dụng phân biệt pháp trần, nên gọi là ý thức.
NGŨ UẨN
           
    Tất cả những chủng tử của nghiệp từ nhiều đời trong quá khứ cộng với biết bao nhân duyên để tạo thành con người trong hiện tại mà nhà Phật gọi là Ngũ uẩn.
    Ngũ uẩn thì có sắc uẩn thuộc về phần thân xác và thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn thì thuộc về phần tâm thức. 
Vậy ý nghĩa nó thế nào?
    • Sắc: là thân xác của con người.
    • Thọ: là những cảm giác vui khổ của thân và tâm.
    • Tưởng: là nhớ lại những hình ảnh vui khổ của thân và tâm .
    • Hành: là những sự biến chuyển thay đổi của tâm niệm.
    • Thức: là sự hiểu biết phân biệt để tạo thành cái biết ở trong tâm.
  • Ngũ uẩn tự nó không có được, mà là do nhân duyên kết thành nên tự nó không có tự tánh hay chủ thể tức là vô ngã. Nhưng một khi mà do nhân duyên kết hợp thì nó làm sao cố định cho được. Trước khi nhân duyên hòa hợp nó chưa có, sau khi nhân duyên ly tán thì nó cũng tiêu tan theo.
  • Tâm thì dựa theo Lục căn để nhận biết Lục trần và phân biệt thành Lục thức mà Ngũ uẩn thì biến chuyển rất nhanh thành thử Tâm của con người cũng phải chạy theo. Ý niệm đua nhau sinh khởi trong tâm thức của con người. Ý niệm sau thay thế ý niệm trước vì thế mà vọng tưởng không bao giờ dừng lại. Vọng tưởng còn thì chân tâm biến mất.
  • Trong 49 năm hành đạo, tôn chỉ của Đức Phật là dạy chúng sinh phải giữ tâm của mình cho được thanh tịnh và loại bỏ tất cả mọi phiền não. Bởi vì vọng tưởng và phiền não biến tâm của chúng ta thành mê muội, mà mê muội là cội nguồn của tham, sân, si.
  • Thật vậy, chính tham, sân, si là đại lộ kinh hoàng để đưa chúng ta vào đường ác nghiệp và làm cho chúng ta mãi mãi trầm luân trong lục đạo luân hồi.
PHẬT DẠY TRONG KINH LĂNG NGHIÊM
  • “Khi thấy,nghe, hay, biết, mà khởi vọng niệm phân biệt, đó là gốc vô minh. Còn khi thấy, nghe, hay, biết mà không khởi vọng niệm phân biệt, đó là Niết bàn”.
  • Trong các phiền não, chỉ có sân hận là thô bạo nhất, bởi thế cổ nhân có nói:”Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai”, tạm dịch là khi phát sinh một niềm giận hờn tức đã mở muôn ngàn cửa chướng ngại. Tệ hại hơn nữa, một khi tham, sân, si phát khởi, thì dâm, sát, đạo, vọng sẽ phát sinh. Đây là bốn đại ác nghiệp mà người tu Phật phải tránh xa.
  • Chúng ta phải nhận thức rằng lục căn, lục thức và lục trần đều là những pháp giả dối, không thật. Thế nhưng lục căn (nội thân) vì có thói quen tiếp xúc với lục trần (ngoại cảnh) bởi vì lục trần luôn luôn có sức hấp dẫn làm lục căn bị mê hoặc. Do đó khi lục thức (ý niệm và tư tưởng) được phát sinh thì trong tâm của chúng ta chất chứa toàn là vọng tưởng, thay đổi không ngừng. Muốn cho lục căn không bị ngoại cảnh (lục trần) cám dỗ thì chúng ta phải giữ cho tâm được hoàn toàn thanh tịnh và loại bỏ mọi chấp trước thì vô minh và vọng tưởng sẽ bị tiêu diệt. Nhớ lại ngày xưa trước khi Đức Phật chứng quả Niết Bàn thì chính Ngài cũng phải chiến đấu ngày đêm với bọn Ma vương. Trong thì có ngũ uẩn ma, pháp hành ma, tứ diệt ma, còn ngoài thì có chư thiên ma.
  • Thật vậy, chiến đấu trong nội tâm thì vạn phần khó hơn là chiến đấu ở ngoại cảnh, vì nếu mình giữ lục căn được trong sáng, thì dầu cho lục trần có quyến rũ, hấp dẫn cách mấy, cũng không thể nào thay đổi được minh tâm của chúng ta. Một trong những phương pháp để giữ tâm được trong sạch là thực tập pháp môn “bát chánh đạo”.
    • Chánh kiến: là thấy, nghe, hay biết một cách ngay thẳng.
    • Chánh tư duy: là suy nghĩ, xét nghiệm chân chính.
    • Chánh ngữ: là nói chân thật, công bình và hợp lý.
    • Chánh nghiệp: là hành động đúng với lẽ phải, có lợi ích cho chúng sinh.
    • Chánh mạng: là sinh sống một cách chân chính bằng nghề nghiệp lương thiện.
    • Chánh tinh tấn: là siêng năng làm những việc chánh nghĩa.
    • Chánh niệm: là nhớ các điều tội lỗi đã làm để thành tâm sám hối và làm bất cứ việc gì cũng nhớ đến hậu quả việc làm của mình.
    • Chánh định: là tập trung tư tưởng vào một vấn đề chính đáng.
  • Chúng ta phải sáng suốt dùng trí tuệ để đánh tan mọi vọng tưởng, vô minh để đem lại sự thanh tịnh, tinh khiết trong tâm của chúng ta.
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH
  • Kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô Thượng
  • Khi tiến sâu vào nguồn mạch của Tuệ giác vô thượng (1-Trí tuệ Bát Nhã), Người Tỉnh Thức Bình Yên (2-Quán tự tại) soi sáng như thật rằng tự tịnh của năm hợp thể (3-Năm uẩn) đều là Không (4-Vô tự tính), liền thoát ly mọi khổ ách.
  • Này người con dòng Sari (5), hình thể chẳng khác chân không, chân không chẳng khác hình thể. Hình thể là chân không, chân không là hình thể. Cảm xúc (6-Thọ uẩn), niệm tự (7-Tưởng uẩn) và tư duy (8-Hành uẩn) và ý thức (9-Thức uẩn) đều là như vậy.
  • Này người con dòng Sari, tất cả hiện hữu được biểu thị là Không, nó không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch, không tăng, không giảm.
  • Vì thế, này người con dòng Sari, trong Không không có hình thể, không có cảm xúc, không có niệm lự, không có tư duy, không có ý thức (10-Năm uẩn); không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý; không có hình thể, âm thanh, hương khí, mùi vị, xúc chạm (11-Xúc) và hiện hữu (12-Pháp Dharma). Không có đối đượng của mắt, cho đến không có đối tượng của ý thức; không có minh, không có vô minh (13-Ignorance,nguồn gốc sự đau khổ), không có sự chấm dứt của minh, cũng không có sự chấm dứt của vô minh; cho đến, không có tuổi già và sự chết, cũng không có sự chấm dứt của tuổi già và sự chết; không có khổ đau, không có nguyên nhân của khổ đau, không có sự chấm dứt khổ đau và không có con đuờng đưa đến sự chấm dứt khổ đau (14-Tứ đê); không có tri giác (15-Vô tri diệc vô đắc) cũng không có sự thành tựu tri giác, vì chăng có quả vị của tri giác nào để thành tựu.
  • Người Tỉnh Thức Bình Yên, do sống an lành trong Tuệ giác vô thượng mà thoát ly tất cả chướng ngại. Và rằng, vì không có những chướng ngại trong tâm nên không có sợ hãi và xa rời những cuồng si mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.
  • Tất cả chư Phật trong ba đời (16-Quá khứ, hiện tại , vị lai) đều nương tựa vào Tuệ giác vô thượng mà thành tựu (17-Giải thoát khỏi thế giới nhị nguyên, không còn phân biệt, đối đãi nhân-pháp, hữu-vô v.v...) chánh giác.
  • Vì thế, nên biết rằng Tuệ giác vô thượng là sức thần (18) kỳ vĩ, là sức thần của trí tuệ vĩ đại, là sức thần cao tuyệt, là sức thần tối hậu, vô song, có thể trừ diệt tất cả khổ đau. Sức thần thoắt sinh từ Tuệ giác vô thượng này là sự thật, là chân lý. Sức thần có năng lực tối thượng đó được tuyên nói trong kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô Thượng rằng:
  • "Đi qua, đi qua ,Đi qua bờ bên kia .Đã đi qua đến bờ bên kia, reo vui!"
TỨ DIỆU ĐẾ 
  • KHỔ ĐẾ
    • Khổ khổ
    • Hoại khổ
    • Hành khổ
    • Sinh
    • Lão
    • Bệnh
    • Tử
    • Cầu bẩt đắc
    • Ái biệt ly
    • Oán tắng hội
    • Ngũ ấm xí thịnh
  • TẬP ĐẾ
    • 5 triền cái
    • 7 kiết sử
    • Tham
    • Sân
    • Si
    • Mạn
    • Nghi
    • Ái kiết sử
    • Kiến kiết sử
    • Thân kiến kiết sử
    • Hữu tham kiết sử
  • DIỆT ĐẾ
    • Tâm bất động giải thoát
    • Vô tướng tâm định
    • Vô tương tâm giải thoát
  • ĐẠO ĐẾ
    • Chánh kiến
    • Chánh tư duy
    • Chánh ngữ
    • Chánh nghiệp
    • Chánh mạng
    • Chánh tinh tấn
    • Chánh niệm
    • Chánh định
    • 37 phẩm trợ đạo : ngũ căn , ngũ lực , tứ vô lượng tâm, tứ bất hoại hình, tứ chánh cần , tứ niệm xứ , thất giác chi , tứ như ý túc
12 NHÂN DUYÊN
  • VÔ MINH
  • HÀNH
  • THỨC
  • DANH SẮC
  • LỤC NHẬP
  • XÚC
  • THỌ
  • ÁI
  • THỦ
  • HỮU
  • SINH
  • GIÀ , BỆNH , CHẾT, SẦU, BI , KHỔ, ƯU , NÃO

Nhận xét

Bài đăng phổ biến