ĐẠO - BÁT TỰ
BÍ ẨN THUẬT XEM SỐ MỆNH THEO GIỜ SINH
BÁT TỰ - 8 CHỮ ĐỊNH ĐOẠT ĐỜI NGƯỜI
Dùng năm tháng ngày giờ để suy đoán hung cát của đời người đó chính là đoán mệnh theo giờ sinh bát tự
Thuật toán mệnh cổ đại đã xuất hiện từ thời Hán Nguỵ Trung Quốc đến đời hư chung đời đường thì kiến thức xác lập hệ thống, sau này được Từ Từ Bình đời Tống Sơ phát triển hoàn thiện thêm , được các nhà mệnh lý học đời sau học tập áp dụng rộng rãi
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được các nhà các nhà mệnh lý học Trung Hoa đương thời khen ngợi " An Nam lý học hữu Trình Tuyền "
Vậy thuật toán mệnh bát tự là gì ? Bát tự hay tứ trụ là một môn học thật có nguồn gốc từ Trung Hoa chuyên dùng để dự đoán vận mệnh của đời người chỉ dựa trên bốn trụ " năm , tháng , ngày và giờ sinh " , mỗi trụ bao gồm 2 chữ tạo thành 8 chữ và một thầy xem số cao tay có thể đọc ra được những đặc điểm trong tính cách , quan hệ gia đình , sức khoẻ , công danh , sự nghiệp của một con người . Vì sao lại có sự việc kỳ lạ như vậy
Đông Tây Kim Cổ - Bát tự , tứ trụ là gì ?
Khác với các nhà tiên tri ngoại cảm , những người có khả năng đặc biệt có thể nhìn thấy cảm nhận được những điều mà người thường không thể . Những phương pháp này đều là dựa trên nền tảng khoa học để nhận biết và suy đoán
Ví dụ như thuật chiêm tinh của người Ấn Độ ,thuật phong thuỷ , thuật tử vi, kinh dịch của người Trung Quốc ... tất cả đều là dựa vào những căn cứ đến từ tự nhiên . Sự vận động của các hành tinh ngôi sao trên bầu trời hay phương vị sự sắp đặt của các sự vật trên mặt đất qua những phương pháp này chúng ta đều có thể nhận ra một điểm chung đó là mối liên hệ không thể tách rời giữa tự nhiên và con người hay nói cách khác đó là quan niệm thiên địa nhân của người xưa , con người là một phần nằm giữa trời và đất. Mọi vận động thay đổi của trời đất đều có tác động trực tiếp lên con người
Vậy có thể căn cứ vào sự vận hành của thiên nhiên mà suy ra sự đối ứng lên con người , phần tinh tuý nhất của trí tuệ cổ nhân Trung Hoa có lẽ chính là học thuyết âm dương ngũ hành theo đó thì vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều được cấu tạo từ ngũ hành Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ . Mặt khác trong mỗi hành mỗi sự vật hiện tượng đều đồng thời tồn tại hai mặt đối lập âm và dương , ngũ hành và âm dương luôn tạo nên sự liên kết cũng như sự đối lập chúng không ngừng hỗ trợ kiểm toạ nhau tạo nên sự cân bằng của cuộc sống , sự tuần hoàn không ngừng của vũ trụ
Âm dương ngũ hành có trong tất cả và tất nhiên con người cũng không phải loại lệ , một bát tự chính là dựa vào âm dương ngũ hành trong năm tháng ngày và giờ sinh của một người để đoán biết tính cách sở trường sở đoạn cũng như dựa vào sự biến thiên của ngũ hành âm dương trong hậu vận trong môi trường sống của người đó để dự đoán vận mệnh hoạ phúc thành bại hưng suy
Quan hệ giữa âm dương ngũ hành và giờ sinh , vào thời điểm một con người chào đời chỉ trong một tích tắc , khí âm dương của vũ trụ nó hội tụ để hình thành song ngũ hành nội tại của người ấy . Bốn trụ tám chữ trong khoảnh khắc đó cũng xác định và đã được gắn liền với vận mệnh cả một đời của đứa trẻ vì vậy thời điểm chúng ta ra đời hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà đã có định số từ trước
Nếu như cha mẹ cố tình chọn ngày đẹp để sinh con thì lá số đó sẽ không còn chính xác nữa, đây đều là do duyên tiền định, hoạ phúc của đời người là do Đức và Nghiệp tích tồn từ nhiều kiếp trước tạo thành không phải tứ trụ quyết định phúc hay hoạ mà là nghiệp duyên thông qua tứ trụ mà thể hiện qua hoạ hay phúc mà thôi
Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ có trong vạn sự vạn vật , dễ thấy nhất là bốn mùa của một năm cũng như trong 12 canh giờ của một ngày để phân định cho rõ ngũ hành trong một lá số người ta làm như sau :
Mỗi trụ của năm tháng ngày và giờ được chia ra trên và dưới thiên can ( nhâm - tân - canh - kỷ - mậu - đinh - bính - ất - giáp - quý ) và địa chi ( tý - sửu - dần - mẹo - thìn - tỵ - ngọ - mùi - thân -dậu - tuất - hợi ) . Mỗi năm mỗi tháng mỗi ngày mỗi giờ lại tương ứng với 10 can và 12 chi khác nhau
Giáp Ất ( Hành Mộc ) Bính Đinh ( Hành Hoả ) Mậu Kỷ ( Hành Thổ ) Canh Tân ( Hành Kim ) Nhâm Quý ( Hành Thuỷ )
Tý ( Thuỷ) Sửu ( Thổ ) Dần Mão ( Mộc ) Thìn ( Thổ ) Tỵ Ngọ ( Hỏa ) Mùi ( Thổ ) Thân Dậu ( Kim ) Tuất ( Kim ) Hợi ( Thuỷ )
Những sự phân chia quy ước này hoàn toàn không phải ngẫu nhiên hay võ đoán . Chúng đều là dựa trên sự quan sát và cảm nhận vô cùng sâu sắc của cổ nhân qua nhiều thế hệ đối với tự nhiên
Ví dụ như Ba tháng đầu năm là Dần Mão Thìn đây là mùa xuân là thời điểm cây cối đâm chồi nảy lộc nó thuộc hành mộc , tương tự như vậy Tỵ Ngọ Mùi là mùa hè hành hoả , Thân Dậu Tuất là hành kim , Hợi Tý Sửu là mùa đông hành thuỷ . 4 tháng cuối mỗi mùa Thìn Mùi Tuất Sửu là thời điểm chuyển giao , chúng thuộc về hành Thổ
Để xác định độ mạnh yếu của ngũ hành trong bản mệnh . Điều đầu tiên cần xét đến đó là tháng sinh , điều này cũng dễ hiểu bởi vì thời điểm nào trong năm là yếu tố quan trọng nhất quyết định xem khí ngũ hành mạnh hay yếu , mùa xuân thì mộc vượng mùa hè thì hoả vượng , mùa thu thì khí kim vượng , mùa đông khí thuỷ mạnh . Đây cũng là điều hiển nhiên là quy luật vận hành của bốn mùa trong năm , nói đến ngũ hành không thể không nhắc đến lý tương sinh tương khắc
Mộc sinh Hoả , Hoả sinh Thổ , Thổ sinh Kim , Kim sinh Thuỷ , Thuỷ sinh Mộc - Mộc khắc Thổ , Thổ khắc Thuỷ -Thuỷ khắc Hoả - Hoả khắc Kim - Kim khắc Mộc . Bất kỳ hành nào cũng nằm trong mối quan hệ sinh khắc , được sinh bị khắc với 4 hành còn lại
Ai nắm chắc được cái lý tương sinh tương khắc của ngũ hành thì có thể thông qua 4 trụ trong lá số mà biết được mệnh của thân chủ đang thừa hay thiếu , thuộc tính nào , ngũ hành trong bốn trụ của mỗi người khác nhau . Vì vậy tính nết của con người cũng chẳng ai giống ai cả , dựa vào sự nhiều hay ít , sự phối hợp của ngũ hành trong bát tự để đoán tính cách của một người đó là điều hoàn toàn có thể
Trong ẩm thực chúng ta có ngũ vị chua - cay - mặn - ngọt - đắng cũng tương ứng với ngũ hành . Một người đầu bếp giỏi là người kết hợp 5 vị này một cách hài hoà để tạo ra những món ăn ngon , ngũ hành cũng vậy , chuộng nhất là sự cân bằng .
Năm thuộc tính kim mộc thuỷ hoả thổ tổng hợp lại mà tạo nên một con người , ngũ hành tương ứng với ngũ ức Mộc chủ về Nhân , Hoả chủ về Lễ , Kim chủ về Nghĩa , Thuỷ chủ về Trí , Thổ chủ về Tín. Đây cũng là năm đức tính căn bản để nói lên tính cách của một con người
Người có sự cân bằng trong ngũ hành là người có sự hài hoà trong tính cách , ngược lại sự vượt trội của một hay nhiều thuộc tính so với các thuộc tính còn lại sẽ tạo nên những cực đoan trong cá tính của mỗi người .Chúng ta chủ yếu đều nằm trong trường hợp thứ 2 , chỉ khác nhau là mất cân bằng bao nhiêu cực đoan nhiều hay ít mà thôi .
Thuộc tính của Mộc là nhân từ dễ cảm thông nhưng nhiều Mộc quá thì thành ra tự do tuỳ tiện , thuộc tính của Hoả là lễ phép sôi nổi hoà đồng nhưng quá nhiều Hoả thì thành ra sốc nổi nóng tính không thể nhẫn , thuộc tính của Kim là hào hiệp trượng nghĩa nhưng Kim quá vượng thì lại thành ra phô trương sĩ diện , thuộc tính của Thuỷ là thông minh mưu trí nhưng nhiều Thuỷ quá thành ra lạnh lùng thủ đoạn , thuộc tính của Thổ là thật thà , đáng tin cậy , nhưng Thổ quá mạnh thì thành ra ù lỳ , chậm chạp
Khi một lá số bị thừa hay thiếu một hành hay sự phối hợp sắp xếp của năm hành quá mất cân đối thì thân chủ sẽ một đời vất vả , khó mà tìm được hạnh phúc , để đạt được sự viên mãn trong cuộc sống , thần chủ cần sự bổ sung cùng một hay hai hành , thứ có thể giúp cân bằng ngũ hành tổng thể trong bản mệnh , đây được gọi là dụng thần trong bát tự . Tuỳ thuộc vào sự sắp xếp của tám chữ trong mỗi lá số để tìm ra dụng thần tương ứng , đó là cái hay nhất trong bộ môn này
Có câu rằng Nhất mệnh , Nhị vận , Tam phong thuỷ . Nếu một lá số thiếu dụng thần hay dụng thần quá yếu hoặc bị khắc quá mạnh , vậy thì thân chủ sẽ một đời lận đận , làm gì cũng không thành , người này chỉ có thể chờ đợi tới khi trong hậu vận của mình xuất hiện dụng thần , khi đó mọi sự sẽ đột nhiên thay đổi , cái gì cũng thuận buồm xuôi gió . Người ta còn thể bổ sung Dụng thần thông qua phong thuỷ nhưng nhìn chung tác dụng cũng rất hạn chế , chỉ cải thiện được những cái nhỏ của cái lớn thì không thể , vận mệnh đã có an bài từ trước chắc chắn không thể thay đổi được
Ngũ hành còn tương ứng với ngũ tạng , Mộc ứng với Gan , Hoả ứng với Tim , Kim ứng với Phổi , Thuỷ ứng với Thận , Thổ ứng với Tỳ . Nhìn ngũ hành trong lá số cũng đoán biết được sức khoẻ và bệnh tật . Thuộc tính nào quá nhiều hay quá ít cũng đều có ảnh hưởng tới nội tạng tương ứng
Ví dụ như mộc quá mạnh thì gan có vấn đề , đồng thời mộc khắc thổ cũng dẫn đến tỳ yếu , đường tiêu hoá cũng không khoẻ mạnh
Hai ví dụ của sự linh thiêng của Bát Tự .
Trước tiên lấy một trường hợp có , sách Thanh bài loại sao có ghi chép thời Triều Thanh thượng thư bộ lễ Uông Đình Chân và quan Thành Thư người Thịnh Kinh Thẩm Dương sinh cùng giờ ngày tháng năm , Uông Đình Chân đổ Tiến sĩ , Thành Thư đổ cử nhân . Uông Đình Chân làm qua lục phẩm Thành Thư ngũ phẩm khi Uông Đình Chân ngũ phẩm thì Thành Thư tứ phẩm , khi Thành Thư làm Thị Lang thì Uông Đình Chân làm quan tam phẩm , sau này Uông Đình Chân làm thượng thư mà Thành Thư vẫn chỉ là Thị Lang , tước vị hai người luôn chênh lệch không hiểu quả là kỳ lạ . Tướng mạo hai người vô cùng giống nhau , năm mất của cha mẹ cũng khá tương đồng . Đại sư Toán mệnh Hồng Kông Thái Nguyên cho rằng địa điểm sinh của hai người khác nhau , do đó mới có sự sai khác đó . Nhưng những gì trải qua trong cả cuộc đời công danh sự nghiệp đều khá tương ứng .
Chúng ta lấy một trường hợp có thực thứ hai, sách Ngũ tạc trở do tại Triệu Triết triều Minh biên soạn có viết , tương truyền Minh Thái Tổ Cao Hoàng Đế Trung Nguyên Chương sau khi định thiên hạ đã tìm người có giờ sinh bát tự giống với mình ở dạng âm tìm thấy một người được đưa đến hoàng cung Trung Nguyên Chương muốn giết ông ta nhưng khi gặp thì ra là một ông già nhà quê , vua bèn hỏi sống bằng nghề gì , người đó nói chỉ nuôi 13 tổ ong cũng đủ tự nuôi mình . Trung Nguyên Chương cười và nói ta cai quản 13 tỉnh và ông nuôi 13 tổ ong , chẳng phải giống nhau sao , thế rồi trọng thưởng cho ông ta và cho trở về quê . Tuy nhiên trải nghiệm cuộc đời của hai người khá tương đồng , năm nào Hoàng Đế mặc bệnh thân thể khó chịu , người có giờ sinh bát tự giống với Hoàng Đế cũng sẽ có sự việc không tốt trong khoảng thời gian mấy năm đó
Qua hai trường hợp trên có thể thấy từ giờ sinh có thể biết được xu hướng của vận mệnh , tức thời gian nào tốt thời gian nào xấu , tốt về cái gì , xấu về cái gì , chứ giờ sinh không thể xem được những thứ cụ thể
Trường hợp thứ nhất , hai người cùng giờ sinh cuộc đời về cơ bản khá tương đồng , còn trường hợp thứ hai lại khác biệt một trời một vực , người làm hoàng đế người làm dân thường . Tuy nhiên về trải nghiệm cuộc đời , những giai đoạn thăng trầm của họ là khá tương đồng
Qua một vài kiến thức căn bản được giới thiệu ở trên chúng ta đã hiểu được phần nào sự thâm sâu của trí tuệ cổ nhân cũng như có thêm hiểu biết về thuyết định mệnh thứ tự trong cõi vô minh luôn từng phút từng giây không ngừng tác động lên cuộc đời của mỗi chúng ta
Vậy thì mục đích cuối cùng của những môn học Dự đoán vận mệnh này là gì ? Nếu như vận mệnh đều có định số từ trước vậy thì việc dự đoán đúng còn có ý nghĩa gì nữa khi chúng ta không thể thay đổi được tương lai của mình , có phương thức nào thay đổi số mệnh bát tự này không ?
Tiếp tục với hay câu chuyện được ghi chép trong lịch sử
Câu chuyện thứ nhất : Thầy toán mệnh họ Lưu đoán mệnh cho hoàng đế Càn Long : Phú Quý tột đỉnh . Thời nhà Thanh vua Càn Long khi đi tuần giảng đình đã cải trang mặc giống thường dân đi du ngoại gặp một thầy toán mệnh họ Lưu , vua có ý vui đùa bèn vào để toán mệnh bài can chi ngày giờ sinh của Càn Long , tính một lúc nét mặt kinh ngạc lắc đầu than không ngớt , vua Càn Long cảm thấy vô cùng kỳ lạ bèn hỏi nguyên nhân , thầy toán mệnh nói " Tôi toán mệnh hơn 30 năm rồi , tự tin toán cát hung hoạ phúc , không có ai là không ứng nghiệm như Thần . Lúc nhàn rỗi không có việc , tôi cũng toán mệnh các năm cho mình , xem ra bản thân có mệnh tiểu phú quý hưởng bổng lộc 2000 thạch không phải là việc khó nhưng đến này tôi vẫn bê bết lưu lạc chốn này . Hôm nay gặp ngày thấy mệnh là phú quý tột đỉnh , dẫu không có hồng phúc nắm cả thiên hạ thì cũng phải mặc mãng bào đeo ngọc bội làm quan cao trong triều đình . Vậy mà trái lại , hai chúng ta lại gặp nhau nơi xó chợ thế này là sao ? Nói rồi thầy toán mệnh lộ ra nét bi ai oán thán , Càn Long rất khâm phục khả năng toán mệnh cao siêu của ông ta , khi đó cũng không nói gì mà đứng dậy ra đi . Sau khi trở về triều, vua đã xuống chiếu mệnh cho thầy Toán mệnh này làm quan chỉ phổ
Câu chuyện thứ hai : Hoàng đế Umberto và người chủ quán. Vua Umberto 1 cai trị nước Ý ( 1878 - 1900 ) , một lần nhà vua đến ăn tối tại một nhà hàng nhỏ , ông nhận thấy chủ nhà hàng trông giống mình y như đúc , khi hỏi ra thì thấy thật kỳ lạ , là vì có quá nhiều điểm chung đến không thể tin nổi cả hai sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm sinh tại cùng một thị trấn , họ đều có vợ cùng tên và cùng ngày 22/4/1868 . Ngày vua đăng quang cũng là ngày nhà hàng ấy được khai trương , năm 1866 cả hai đều được nhận huy chương trong lúc đang phục vụ trong quân đội , 1870 cả 2 đều được thăng chức , chủ quán lên chức trung sĩ còn vua trở thành tổng tư lệnh quân đội . Điều này khiến nhà vua suy nghĩ rất nhiều , ở đỉnh cao quyền lực nhưng đây là lần đầu tiên nhà vui cảm thấy số mệnh thật kỳ lạ . Ngài tự hỏi phải chăng các vị thần đã sắp đặt điều này . Sáng hôm sau , nhà vua ra lệnh phong tước hiệp sĩ cho người chủ quán ấy , khi người chủ quán đang trên đường đến hoàng cung ông đột nhiên bị một kẻ sát nhân bắn ba phát đạn vào ngực khiến ông tử vong tại chổ . Nhận được hung tin nhà vua vừa chạy đến nhưng khi ông vừa đặt chân bước xuống xe xong một tên sát nhân điên loạn không biết từ đâu xuất hiện cũng bắn ba phát đạn vào ngực nhà vua khiến ông tử vong ngay lập tức . Câu chuyện có thật về hoàn đế Umberto và chủ quán lạ lùng ấy đã từng làm xôn xao dư luận thế giới một thời
Người phương Tây xem đó là sự trùng hợp kỳ lạ để lý giải được bát tự có liên quan thế nào đến hai trường hợp trên , cùng xem xét những mối quan hệ trong bát tự
Dụng thần và Kỵ thần
Trong tám chữ của tứ trụ nếu Nguyệt trì trì tháng là môi trường là nền tảng của bảy chữ còn lại thì người ta lấy nhật can can ngày làm bản thân mình , chính vì vậy càng ngày còn hay được gọi với cái tên khác là nhật trụ . Nhật trụ là đại diện cho bản thân thân chủ của lá số đó
Lấy ví dụ của một lá số cụ thể " Mệnh nam sinh năm mậu thìn , tháng ất mão , ngày ất hợi , giờ giáp thân " nhật trụ là ất mộc vì thế thân chủ thuộc mệnh ất mộc , ất mộc sinh vào tháng mão là tháng 2 giữa mùa xuân , lúc khí mộc đang ở thời điểm cực thịnh vì vậy nhật trụ rất vượng , dưới nhật trì chỉ ngày lại có hợi thuỷ sinh thêm cho mộc , hai bên can giờ và can tháng lại có thêm giáp mộc và ất mộc hợp lực trợ giúp nhât can tạo thành thế cực kỳ cường vượng , lá số này chỉ mới nhìn qua đã thấy mộc là chủ đạo và đang rất mất cân bằng . Trong bát trụ giờ sinh , nhật trụ quá vượng hay quá suy thì giống như người ăn quá no hay quá đói đều là không tốt . Tuy ở dưới chi giờ có thân kim nhưng kim sinh vào giữa mùa xuân nên khí không mạnh hơn nữa lại bị giáp mộc trên can giờ làm suy yếu cho nên không đủ sức khắc chế nhật trụ , ở trụ năm là hai chữ mậu thìn đều thuộc hành thổ , mậu thổ sinh giữa mùa xuân tuy không phải thời điểm đẹp nhất nhưng mậu ở trên can thì chi thìn thổ ở phía dưới làm gốc rễ nâng đỡ cho nên khí thế của thổ ở trong mệnh cũng có thể là xem khá vững chắc
Ngũ hành chuộng nhất là cân bằng , vậy khi mộc ở trong mệnh quá nhiều cần phải lấy kim để khắc chế mộc , vì kim khắc mộc , lấy hỏi để tiêu hao mộc , vì mộc sinh hỏa , lấy thổ để hoá giải bớt mộc , vì mộc khắc thổ . Ở trong mệnh không có hỏa , kim thì quá yếu ớt nên chỉ còn thổ là đủ sức làm dụng thần , dụng thận là thuộc tính quan trọng trong bản mệnh ,có tác dụng tạo nên sự cân bằng của ngũ hành . Thân chủ có dụng thần thuộc hành nào thì xu thế chung cho cuộc sống sẽ được định hướng theo thuộc tính của hành, đó luôn là xu hướng tốt nhất đem lại sự ổn định và hạnh phúc trong cuộc đời tuỳ thuộc vào dụng thần là mạnh hay yếu mà xu hướng đó sẽ thể hiện ra ít hay nhiều . Khi dụng thần ở trong bản mệnh có đủ sức mạnh thì thân chủ từ khi sinh ra sẽ khoẻ mạnh , trong cuộc sống thì được may mắn , ít gặp tai ương , những người có cuộc đời bất hạnh thường là trong mệnh của họ thiếu sự cân bằng đi đôi với không có dụng thần hoặc dụng thần bị khắc chế không đủ lực để trợ giúp nhật trụ , nhật chủ ất mộc trong lá số kia lấy Mậu thổ làm dung thần , mậu thổ trong bệnh có gốc rễ đủ sức mạnh , thân chủ là người khoẻ mạnh , cuộc sống từ khi sinh ra đến lúc lớn lên đều suôn sẻ , thổ chủ về tín nên thân chủ là người thật thà, luôn lấy trung thực làm kim chỉ nam , thổ chủ về tín vì vậy chữ tín luôn là người bạn đồng hành hỗ trợ thân chủ trong cả cuộc đời , hành mộc ở trong bản mệnh rất cường vượng nên thân chủ bản chất lương thiện và hay giúp đỡ người khác . Tuy nhiên tính cách cũng rất tự do phóng túng không chịu theo nguyên tắc , thổ tuy có lực nhưng vẫn bị mộc khắc rất mạnh vì thế thân chủ từ nhỏ đã có vấn đề về tiêu hoá , bị đau dạ dày tuy nhiên cũng không quá nghiêm trọng , khi trưởng thành cũng xuất hiện một số bệnh liên quan đến gan , đây đều là do mộc ở trong bản mệnh quá mạnh mà thể hiện ra như vậy
Đến đây có lẽ chúng ta đã hiểu được tầm quan trọng của dụng thần ở trong bát tự , dụng thần là cứu cánh của bản mệnh , là thứ mà thân chủ sẽ một đời dựa vào để tìm thấy hạnh phúc trong kiếp nhân sinh . Ngoài dụng thần thì còn có hỉ thần là thuộc tính trợ giúp dụng thần cũng góp phần tạo nên sự cân bằng trong bát tư . Trái ngược với dụng thì thần là kỵ thần , thứ khiến cho bản mệnh càng mất đi sự cân bằng , tuỳ thuộc vào ngũ hành mạnh hay yếu , diệt chủ vượng hay suy mà tìm ra dụng thì kỵ thần đó là bước đầu tiên và quan trọng nhất của một học học bát tự khuyên bảo người ta sống theo chọn công việc , công việc theo dụng thì thần đồng thời né tránh kị thần đó là áp dụng bát tự vào trong cuộc sống
Chắc hẳn không ít người trong chúng ta từng biết, có một thời gian nở rộ phong trào các bậc phụ huynh chi nhiều tiền để nhờ cậy các thầy xem số trong nước cũng như nước ngoài thông qua bát tự giờ sinh của con mình mà tư vấn chọn ngành nghề cũng như phương vị phù hợp nhất cho tương lai . Giờ đây chúng ta đã hoàn toàn có thể lý giải được việc này hướng nghiệp theo bát tự là như thế nào ? Đơn giản là tìm giả dụng hỷ thần rồi lựa chọn định hướng công việc liên quan đến ngũ hành tương ứng
Hành mộc là hướng đông , những nghề liên quán đến cây cối , ươm trồng cây cảnh , chế tác đồ gỗ , dệt may , thủ công mỹ nghệ , ngày đêm liên quan đến lương thực , thực phẩm sách vở , văn hoá xuất bản
Hành hỏa là hướng nam , những nghề những liên quan đến điện tử , điện máy , xăng dầu , máy tính , quân sự ....
Hành thổ hợp nơi trung tâm bản địa , các ngành liên quan đến bất động sản , tài nguyên thiên nhiên , xây dựng gốm sứ , nông nghiệp
Hành thuỷ hợp phương bắc , các ngành liên quan tới nước như rải cát đê điều , thuỷ hải sản hay nghề liên quan đến vận tải , quảng cáo , âm thanh , hình ảnh
Hành kim là hướng tây , hợp những nghề liên quan tới ngân hàng , tài chính , tiền tệ , cơ khí kim loại , trang sức máy móc , võ thuật ....
NHỮNG MỐI QUAN HỆ RÀNG BUỘC BÊN TRONG BÁT TỰ
Sự tương sinh tương khác của ngũ hành trong tứ trụ đối với nhật trụ còn tạo ra những mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau rất phức tạp và vô cùng thú vị . Giả sử nhật trụ là ất mộc , mộc sinh ra hỏi , vậy hành hỏi trong mệnh sẽ tượng trưng cho bản lĩnh , năng khiếu , khả năng thiên bẩm của thân chủ . Đối với phụ nữ mệnh mộc thì hoả còn là con cái ở trong mệnh , đối với con người thì tài sản sự nghiệp danh vọng và những thứ chúng ta khống chế và sử dụng , mộc khắc thổ vậy thổ sẽ tượng cho tiền bạc và sự nghiệp của người đó đối với đàn ông mệnh mộc thổ còn là vợ . Con người thường bị điều gì khống chế đó là cấp trên , là chính quyền , là pháp luật hay là thầy cô giáo ... kim khắc mộc vậy với người có mệnh mộc thì kim sẽ đại biểu cho những gì khống chế kiểm toà người ta , đối với đàn bà mệnh mộc kim còn tượng trưng cho chồng , thuỷ sinh mộc ,vậy mộc sẽ tượng trưng cho những gì sinh ra cấp dưỡng cho thân chủ , thứ nhất thuỷ đại biểu cho mẹ của thân chủ trong bản mệnh , thứ gì Thuỷ là đại diện cho bằng cấp tri thức hiểu biết của thân chủ có được thông qua quá trình học tập trong nhà trường hoặc ngoài xã hội , với người mang mệnh mộc thì những chữ Mộc khác trong tứ trụ sẽ là biểu trưng cho đồng nghiệp
Anh em bằng hữu thông qua ngũ hành trong tứ trụ chúng ta có thể luận ra những mối quan hệ căn bản của thân chủ thuộc tỉnh nào đối với nhật chủ là dùng hỷ thần khi những mối liên hệ đằng sau anh ấy là thứ đem lại niềm vui hạnh phúc . Ngược lại những gì thuộc về kỵ thần thì là thứ đem lại bất hạnh buồn khổ trong cuộc sống . Ngoài ra bất kể hành nào cũng nằm trong mối quan hệ sinh khắc , được sinh hay bị khắc với bốn hành còn lại . Chính sự phức tạp đó đã tạo nên số phận của mỗi người không ai giống ai , có người ngũ hành trong bản mệnh phối hợp với nhau rất tốt , người này cả một đời suông sẻ , trong ấm ngoài êm , tiền tài danh vọng đều đủ cả . Ngược lại có người ngũ hành sắp xếp phối hợp với nhau rất tệ , từ đó thể hiện ra những mâu thuẫn những vấn đề không thể giải quyết trong cả cuộc đời .
Trong ví dụ chúng ta nói đến ở đầu video dụng thần của người nam mệnh mộc là thổ , mộc khắc thổ dụng thần của thân chủ là sự nghiệp tiền tài và là vợ . Thổ có lực khá mạnh trong bản mệnh để thân chủ được vợ giúp đỡ nhiều , hai vợ chồng tâm đồng ý hợp , sự nghiệp của người này cũng suôn sẻ . Tuy không quá rực rỡ , nhưng cũng có thể nói là thuận buồm xuôi gió , là nền tảng vững chắc cho cuộc sống gia đình sau này . Qua một ví dụ cụ thể và những quy ước , những kiến thức cơ bản liên quan đến ngũ hành tương sinh tương khắc trong bản mệnh chúng ta đã nắm được một số nguyên tắc về dự đoán và đối chiếu thường được dùng trong bát tự . Mỗi người khi sinh ra đều đã có số phận được sắp đặt sẵn , chỉ dựa vào những thông tin từ năm tháng ngày và giờ sinh mà chúng ta đã có thể giải mã đươc bí mật đó trong
Hết phần Mệnh - là phần cứng không bao giờ thay đổi , cũng là phần quan trọng nhất trong vận mệnh của mỗi người
Tìm câu trả lời mục đích thực sự của những môn học dự đoán là gì và chúng ta có thể thay đổi vận mệnh của mình được không ?
Cách xem hậu vận trong Bát tự
Trong cuộc sống chúng ta không khó bắt gặp những người nửa đời trước thì vất vả khó nhọc làm gì cũng không thành nhưng nửa đời sau đột nhiên thay đổi hoàn toàn , làm gì cũng thành công vinh hoa phú quý không thiếu thứ gì và đương nhiên những ví dụ ngược lại , nửa đời trước vinh hoa nửa đời sau bết bác cũng không hề ít , người đời có câu lên voi xuống chó hay xông có khúc người có lúc , tất cả những hiện tượng này đều liên quan đến chữ vận
Nếu 4 trụ năm tháng ngày và giờ sinh quy định cái ngũ hành nội tại sẽ gắn liền với người ta cả một đời . Vậy thì còn có một trụ lớn nữa cũng có sức ảnh hưởng không kém đến cuộc đời đó là chủ thứ năm - trụ của đại vận
Đại vận mệnh là do tiên thiên , là nền tảng quyết định phú quý nghèo hèn . Vậy là nơi mà mệnh đến phú quý định ở mệnh cùng hay thông là do vận . Nếu như ví mệnh là hạt giống của cây thì vận chính là thời gian hạt giống rơi xuống đất . Nếu một người sinh ra là mệnh tốt nhưng không gặp thời chính là anh hùng không có đất dụng võ , giống như có bảo đao bảo kiếm trong tay mà mà phải đi tỉa cây đốn củi , cần đợi khi vận tốt đến thì mới phát huy tác dụng của phú quý vinh hoa trong mệnh được
Mỗi đại vận kéo dài 10 năm , bắt đầu từ thời điểm khi người ta được sinh ra , tuỳ thuộc xem thân chủ là nam hay nữ , sinh vào năm âm hay dương mà đại vận được tính xuôi hay ngược , kể từ trụ tháng chúng ta tiếp tục xem xét ví dụ từ phần trước , mệnh nam sinh năm mậu thìn tháng ất mão ngày ất hợi giờ giáp thân , mệnh là nam sinh năm mậu thìn là năm dương vì thế đại vận lấy xuôi lên theo trụ tháng ất mão bằng một công thức đặc biệt chúng ta sẽ tính ra được rằng đại vận đầu tiên sẽ bắt đầu từ lúc thân chủ 5 tuổi , như vậy chúng ta đã có được vận trình của cuộc đời như sau
- 1 từ 5 - 14 tuổi : đại vận bính thìn
- 2 từ 15 - 24 tuổi : đại vận đinh tỵ
- 3 từ 25 - 34 tuổi : đại vận mậu ngọ
- 4 từ 35 - 44 tuổi : đại vận kỷ mùi
- 5 từ 45 - 54 tuổi : đại vận canh thân
- 6 từ 55 - 64 tuổi : đại vận tân dậu
- 7 từ 65 - 74 tuổi : đại vận nhâm tuất
- 8 từ 75 - 84 tuổi : đại vận quý hợi
- 9 từ 85 - 94 tuổi : đại vận giáp tý
Phú quý định ở mệnh nhưng cùng hanh thông là do vận , do đó để biết một lá số có phú quý hay không thì không thể không xét đến Đại vận , lá số này trong 4 trụ bản mệnh đang quá thừa mộc , tuy dụng thần mậu thìn hành thổ ở trụ 5 có thể phát huy tác dụng làm cân bằng nhưng nhìn chung mộc vẫn quá dư thừa . Nhìn vào 2 đại vận đầu tiên trong vận trình chúng ta thấy có bính thìn - định tỵ - hai đại vận này đều thuộc hành hỏa , trong mệnh đang thừa mộc thiếu hoả , đại vận lại mang hỏa tới , hoả vừa có tác dụng tiếc chế mộc vì mộc sinh hoả , vừa sinh phù cho dụng thần thổ vì hoả sinh thổ , rõ ràng đây là hai đại vận tốt , báo hiệu một tuổi thơ êm đềm của thân chủ .Thực tế cũng đúng như vậy , người này từ khi sinh ra đã có đầy đủ tình cảm từ cha mẹ , sức khoẻ ổn định , học hành thi cử đều suôn sẻ , đến năm 19 tuổi thì xuất ngoại đi du học ở châu âu . Đại vận thứ 3 mậu ngọ , ở trên có mậu thổ , dưới là ngọ hoả , hoả làm gốc sinh phù cho thổ ở trên đây , lại là một đại vận tốt , mang theo dụng thần thổ đến cho bản mệnh , mộc khắc thổ , như vậy thổ là tiền tài trong mệnh , đại vận mang theo tiền tài chứng tỏ vào vận này thân chủ bắt đầu có tiền , thực tế đúng là như vậy , năm 25 tuổi người này chuẩn bị tốt nghiệp đại học xin đi thực tập và bước đầu tự kiếm tiền được bằng chuyên môn của mình , sau khi ra trường người này tiếp tục làm việc theo chuyên môn và có thu nhập ổn định , thổ còn là vợ đối với người nam mang mệnh mộc , năm 28 tuổi chủ mệnh kết hôn , tại thời điểm hiện tại chủ mệnh đang chuẩn bị 35 tuổi , sắp bước sang đại vận kỷ mùi thứ tư , trên lý thuyết kỷ và mùi đều thuộc hành thổ , như vậy đây cũng là đại vận tốt . Tuy nhiên trong bát tự còn có nhiều yếu tố biến hoá kỳ ảo nên đôi khi có những thay đổi của chúng ta không thể lường trước được, chỉ có thể tự trải qua rồi chiêm nghiệm lại mà thôi . Hai đại vận kế tiếp thứ 5 và 6 là Canh Thân Tân Dậu đều thuộc hành Kim cũng là thuộc tính mang lại sự cân bằng cho tứ trụ . Mộc đang quá mạnh mà gặp Kim giống như cây cối um tùm , cành lá tứ tung nay được người tới cắt tỉa cho gọn gàng ngay ngắn . Kim trong bản mệnh đại diện cho quan quyền , điều này chứng tỏ trong hai vận đó có thể người này sẽ có tiến triển trong quan lộ hoặc bắt đầu có sức ảnh hưởng tới nhiều người khác , như vậy hai đại vận này cũng đều là tốt . Kể từ sau 65 tuổi , đại vận thứ 7 8 và 9 vận trình bắt đầu chuyển vào Nhâm Tuất Quý Hợi Giáp Tý là tới khu vực của kỵ thần thuỷ và mộc , cuộc đời cũng dần dần đi xuống , công danh sự nghiệp sẽ trở thành Dĩ vãng . Tuy nhiên đây cũng đã là cái tuổi mà con người ta nên biết dừng lại để tìm cho mình những niềm vui mới trong những năm cuối đời
Tiểu vận , ngoài đại vận 10 năm thay đổi một lần thì còn cần phải xét tới tiểu vận , tiểu vận chính là can và chi trong năm âm lịch mà chúng ta thường nhắc đến . Ví dụ năm 2022 là năm Nhâm Dần , năm 2023 là Quý Mão , tiểu vận được xếp bên cạnh đại vận trở thành trụ thứ 6 ngũ hành trong can và chi của tiểu vận cũng có ảnh hưởng đến ngũ hành trong toàn cục của vận mệnh . Chính vì vậy mà trong đại vận tốt vẫn có năm xấu ngược lại chồng vẫn xấu vẫn có những năm tốt đẹp sáng sủa . Lá số mà chúng ta xem trong ví dụ có thể nói là thuộc dạng mệnh cục dễ xem và dễ đoán biết . Ngũ hành trong bốn trụ thể hiện ra thừa hay thiếu rất rõ ràng . Dụng thần cũng không khó để tìm ra , nhìn một cách tổng quan thì có thể thấy đây là một lá số đẹp . Để xem được chi tiết hơn , dự đoán được hung cát trong từng giai đoạn , từng năm thì người xem cần phải trao dồi thêm nhiều kiến thức và kinh nghiệm hơn nữa trong
Ý NGHĨA THỰC SỰ CỦA NHỮNG MÔN HỌC DỰ ĐOÁN LÀ GÌ ?
Bát tự hay những môn học dự đoán vận mệnh khác đều có thể giúp người học nhận biết được số phận của một người qua những thông tin khác nhau, thông qua những kiến thức và ví dụ vừa được chia sẻ , chúng ta có thể thống nhất với nhau một điều rằng , số phận thực sự có tồn tại , thậm chí nó đã được định sẵn từ trước khi người ta sinh ra . Vậy điều gì quyết định tạo nên cái số phận ấy . Đương nhiên đó là đức và nghiệp là những việc làm tốt và xấu của chúng ta trong nhiều kiếp trước . Người ta thường hay tò mò về số phận của bản thân . Thích đi xem bói để biết trước hung cát vận mệnh của bản thân để rồi vui mừng khi nghe được điều tốt , lo lắng khi biết được tin xấu . Thậm chí nhiều người còn thực hiện những nghi thức và hi vọng hoá giải được những tai nạn được dự đoán trong số phận của mình , đó có phải là mục đích thực sự của những bộ môn toán mệnh hay không ?
Bát tự hay những môn học dự đoán khác đều được truyền lại từ xa xưa , đã có lịch sử rất lâu dài , chúng ta gần như không thể xác minh được nguồn gốc thật sự của những môn học này . Phải chăng chúng là những manh mối được Thần truyền lại nhằm giúp con người đề cao nhận thức chân chính về sinh mệnh và vũ trụ . Nếu quả thực là như vậy thì ý nghĩa của những môn học này không chỉ dừng lại ở việc dự đoán tương lai
Trong đạo Phật , người ta thường nhắc đến hai chữ buông bỏ , buông bỏ không phải là vứt bỏ hết mọi thứ vật chất trắng tay để trở nên tay trắng . Buông bỏ ở đây là chúng ta gạt bỏ đi những tranh đấu , đố kỵ , tự mãn , truy cầu , những thứ vốn chỉ đem lại thêm phiền não cho con người .
Thông qua những môn dự đoán chúng ta hiểu được rằng số phận của con người đã được định sẵn , thành bại vốn không phải do chúng ta phấn đấu mà đạt được . Vì vậy khi thành công chúng ta cũng không cần quá vui mừng , khi thất bại chúng ta cũng không nhất định phải đau khổ . Trong mọi hoàn cảnh chúng ta chỉ cần làm tốt những việc mình cần làm , không lo lắng , không truy cầu , không đố kỵ , cứ tự do tự tại mà sống cuộc đời của bản thân mình theo cái cách mà nó đã được an bài từ trước . Đây có lẽ mới chính là cuộc sống chân chính của môn bát tự nói riêng và những môn học dự đoán toán mệnh nói chung
SỐ PHẬN CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC HAY KHÔNG ?
Một người có thể thay đổi được số phận của mình bằng cách làm nhiều việc tốt . Quả thực là có chuyện như vậy , nếu không thì cũng không có khái niệm tích đức hay tạo nghiệp rồi . Người ta có thể thay đổi được số phận của mình thông qua việc tích âm đức . Người tích được nhiều âm đức trong kiếp này có thể hoá hung thành cát , mọi tai nạn vốn đã được định trước cũng sẽ được hoá giải . Nạn lớn biến thành nạn bé , nạn bé trở thành không có nạn
Vậy làm sao có thể tích được âm đức ? Có phải chúng ta cứ đi làm thật nhiều việc tốt , đi phóng sinh , làm từ thiện khắp nơi thì sẽ tích được nhiều âm đức hay không ? Không nhất định là như vậy , chỉ khi con người ta ở trong vô vi vô cầu, giúp đỡ người khác một cách vô điều kiện , chỉ như vậy việc chúng ta làm mới là việc tốt , chúng ta mới tích được âm đức . Âm đức chỉ có thể đạt được trong vô ý , hữu cầu mà làm việc tốt thì sẽ không có âm đức
Như vậy bước đầu tiên để thay đổi số phận của mình không gì khác chính là chấp nhận nó mà an vui tiếp tục sống . Ví dụ câu chuyện về Phạm Trọng Yêm , tể tướng triều tống , một lần ông mua một ngôi nhà ở Tô Châu , thầy phong thuỷ khen ngôi nhà này có phong thuỷ cực tốt , đời sau ắt con cháu làm quan to . Phạm Trọng Yêm lập tức quyên tặng căn nhà này hoán cải thành học đường . Bởi vì ông nghĩ để con cháu người dân thành Tô Châu đều nở mày nở mặt so với để một mình nhà ông hưởng phúc thì chẳng phải là càng tốt sao . Tục ngữ nói giàu không quá ba đời nhưng gia tộc họ Phạm lại hưng vượng 800 năm . Bốn người con trai ông đều tài đức song toàn , đều làm tể tướng và đại quan . Gia tộc này hưng thịnh kéo dài không thể không gắn liền với những việc làm tích âm Đức của Phạm Trọng Yêm và của con cháu các đời sau
Hạnh phúc hay bất hạnh của cuộc đời là do đức và nghiệp quyết định , như vậy không hề sai khi nói rằng , làm người nên phải lấy Đức làm gốc . Có đức thì giờ không có sau này sẽ có , không có đức thì có bao nhiêu rồi cũng sẽ mất hết
Chúng ta sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về sinh mệnh và vũ trụ bát tự giờ sinh nói riêng hay những môn học dự đoán toán mệnh nói chung , không gì khác hơn chính là một chiếc chìa khóa vén mở ra bức màn bí ẩn của thuyết định mệnh và quy luật nhân quả . Nhất mệnh - nhì vận - tam phong thuỷ
Mệnh và vận đều đã có định số và không thể thay đổi . Thấu hiểu quy luật của vận mệnh , buông bỏ tham sân si , thường hay hành thiện giúp người ở trong vu vi mà tích lấy âm đức , đây chính là phong thuỷ tốt nhất của đời người
NHÌN TƯỚNG BIẾT TÂM , NHÌN TÂM BIẾT MỆNH
Nhân tướng học được thực hành ở phương đông từ rất xa xưa vào thời cổ đại dựa vào quan sát diện mạo của một người mà đoán định tương lai , còn có thể tiết lộ nhiều điều về tính cách của người đó
Xem tướng được dùng như một nghệ thuật lẫn khoa học trong khám phá sinh mệnh . Người xưa sử dụng thuật xem tướng từ việc chọn vợ gả chồng đến tìm người cho các chức vụ trong triều đình
Xem tướng trở thành một phần của xã hội cổ đại phương đông được ghi chép trong các thư tịch cổ như Trúc Thư Kỷ Niệm và ngày càng phổ biến hơn ở phương Tây .
Có nhiều cách để tiếp cận và phân chia và luận giải khuôn mặt , khái quát đến từng nét hoặc là dùng âm dương ngũ hành . Thường khuôn mặt được chia làm 3 phần gọi là Tam Đình
Thượng Đình từ trán phần sát mép của chân tóc đến chổ tiếp giáp ấn đường , khoảng giữa hai lông mày còn gọi là tiền phản ánh tuổi thơ thiếu thời , những yếu tố thiên bẩm của đối tượng , đặc cách là cao rộng sáng sủa thì não bộ phát triển đầy đủ , biểu hiện sự thông minh sáng suốt và trí tuệ là tiền đề của sự thành công . Biểu hiện sâu vận của con người từ 1 đến 25 tuổi . Nếu cao rộng được nuôi nấng trong một gia đình đầy đủ sung sướng, nếu thượng đình ngắn thì là con người có đầu óc thực tế , nếu thượng đình tốt mà Hạ Đình khuyết hãm cũng là bất đắc chí
Trung Đình khoảng từ lông mày xuống tới huyệt nhân trung giữa môi trên và mũi còn gọi là nhân , trung đình quan trọng nhất là cái mũi tốt là mũi dài rộng tròn khoan hoà . Đắc cách là mũi cao và hai lưỡng quyền gò má rộng , mũi phải dài thì mới cân xứng , mũi dài chủ thọ biểu hiện sức khoẻ khí lực . Nếu thượng đình phát triển đầy đủ mà trung đình khuyết hãm thì chẳng làm nên gì . Trí tuệ chỉ dừng ở chổ lý thuyết , làm việc gì cũng nản , rất khó thành công lớn
Hạ Đình từ nhân trung đến địa cát ở cằm còn gọi là địa , cần phải phong mãn nảy nở đầy đặn , rộng , người cằm đầy địa cát nảy nở sáng sủa không có vết ám hãm ( vết đen , nốt ruồi ) là đắc cách , cằm phải phù hợp với mặt . Nếu mặt to nhưng cằm nhỏ hoặc thót thì cũng không tốt .
Nguyên tắc của tướng số là tương xứng cân đối , là lộc , là hoạt lực . Tất cả các khí chất của cuộc sống , kinh nghiệm đường đời , sự va chạm, bươn chải trong cuộc sống , mọi hoạt động dành cho sự mưu sinh và tồn tại cuộc sống
Địa cát (cằm) nảy nở sáng sủa là vãn niên ( về già ) sung sướng . Địa cát khuyết hãm : vãn niên vất vả . Địa cát mỏng ( cằm sắc lẹm ) : là người bảo thủ , cực đoan
Dùng thuyết tam tài ( Thiên - Địa - Nhân ) mà quan sát tam đình có thể có được cái nhìn khái quát về đường đời của đối tượng
- Tam đình bình ổn , phú quý vinh hiển
- Tam đình bất ổn , thế cô bần tiện
LẠI CÓ THỂ XEM TỪNG BỘ PHẬN
Ví dụ như khoảng cách trung bình giữa hai mắt là bằng độ dài của một con mắt , diện tướng gợi ý rằng khoảng cách giữa hai mắt có thể nói lên cái chí của một người . Người mà khoảng cách này rộng thì thường dễ dãi , vui đâu chầu đấy , còn những người mà khoảng cách này hẹp thì thường là kẻ có chí
Ví dụ khác là môi miệng , diện tướng gợi ý độ dày mỏng của môi nói lên cái tính của người . Người môi mỏng thường đa ngôn , lắm lời . Môi dày thường có tài ăn nói . Hai môi cân xứng , lăng giác ( là đường nét môi ) rõ ràng , hình dáng thanh nhã , môi hồng , khoé miệng hướng lên . Răng đều và trắng ( răng là hình của miệng ) , lời nói là thần của miệng , miệng đẹp nhưng hay nói xàm bậy là bị phá ( vì tâm không tĩnh , không thể đạt tới cao sang ). Nếu miệng môi đắc cách hậu vận sung sướng , con cái thành đạt , bạn bè tốt
NHÌN TƯỚNG MẠO BIẾT ĐƯỢC VẬN MỆNH
Câu chuỵện Bùi Độ . Bấy giờ là triều đại nhà đường , Bùi Độ thưở nhỏ sống cảnh nghèo khổ , cơ cực . Một hôm trên đường gặp một vị tướng số , vị này nhìn thấy tướng mạo Bùi Độ thấy ánh mắt láo liên , đường gân chạy vào chổ miệng , ấy là tướng ăn xin đầu phố đói khổ mà chết . Bèn khuyên Bùi Độ nên nỗ lực tu dưỡng hành thiện tích đức , mấy ngày sau Bùi Độ nhận được trên núi Hương Sơn một chiếc đai ngọc của nữ nhân và tìm trả cho người ta , nhờ thế mà cứu được tính mệnh cha mẹ cô gái ấy . Hôm sau ông gặp lại vị tướng số hôm nọ , vị này trông thấy Bùi Độ có ánh mắt trong sáng thần thái đã khác hẳn , liền nói sau này Bùi Độ sẽ làm quan đại thần trong triều . Vị tướng số bèn khuyến khích Bùi Độ hành thiện : " Tấm thân bảy thước chẳng bằng khuôn mặt bảy tấc , khuôn mặt bảy tấc chẳng bằng cái mũi ba tấc , cái mũi ba tấc chẳng bằng một khối tâm " . Quả nhiên Bùi Độ sau làm trọng thần của 4 đời vua đường Hiến Tông , Mục Tông , Kinh Tông và Vận Tông , là danh tướng toàn tài đương thời đã thành danh Quân Cao Trung Nguyên vang danh biệt ngọai . Trong sử sách nhìn nhận ông là đức độ thuỷ chung suốt 4 đời vua , uy danh đức độ của ông sánh với Quách Phần Dương . Bùi Độ có 5 người con đều có danh tiếng rạng rỡ , bản lĩnh hơn ngừời
Chuyện Bùi Chương . Ông là người Giang Đông tỉnh Sơn Tây , cha mẹ của Bùi Chương có quan hệ rất thân với Tăng Đàm Tiếu pháp sư , pháp sư giỏi về thuật tướng số , ông quay tướng Bùi Chương thấy thiền đình bạo mãn , địa các phương viên , đình trán và cằm đầy đặn , phúc hậu là tướng tương lai làm nên sự nghiệp danh giá , nhất định thành tựu . Khi 20 tuổi , Bùi Chương cưới Lý Thị làm vợ , một năm sau đó anh đến Thái Nguyên làm quan , vợ con phải để lại nhà , mấy năm sau Bùi Chương trở về gặp Đàm Tiếu pháp sư thì pháp sư rất ngạc nhiên thấy tướng mạo của anh đổi khác hẳn , thiên đình lép kẹp , cằm nhọn lòng bàn tay có hắc khí xoay chuyển . Pháp sư bèn bảo rằng anh ta e rằng sẽ gặp hoạ , phải cẩn thận rồi gạn hỏi xem anh có làm gì thất đức không . Bùi Chương suy xét rồi kể rằng mấy năm ở Thái Nguyên chỉ phạm mỗi việc thông dâm với dân nữ là trái với luân lý mà thôi , chứ không làm gì bất lương cả . Đàm Chiếu ,Pháp Sư thở dài thườn thượt nói : " Vốn dĩ cậu có tương lai tốt đẹp , sao chẳng biết trân quý? Tư thông với vợ người ta , cậu đã huỷ hết phúc đức của mình rồi . Thật quá là đáng tiếc ! " . Dần dần về sau Bùi Chương thật sự gặp đại hoạ . Một lần , khi đang tắm thì bị hành thích , một đao trúng bụng, gan ruột phòi ra bỏ mạng .
TƯỚNG MẠO CỦA MỘT NGƯỜI SẼ THAY ĐỔI THEO TÂM NIỆM THIỆN ÁC CỦA NGƯỜI ĐÓ
Tướng do tâm sinh là quan niệm trong văn hoá thần truyền cả trong Phật giáo lẫn Đạo giáo . "Tướng" là bề mặt , là biểu hiện bên ngoài ; "Tâm" là hoạt động bên trong ; " tướng " là hư cấu bất thực , ở trạng thái bị động , là phản ánh ra ngoài của " tâm " ; " tâm " thế nào thì " tướng " thế nấy ; " tướng " là tuỳ theo " tâm " biến hoá mà biến hoá theo cũng gọi là " cảnh tuỳ tâm chuyển " " tướng tuỳ tâm sinh " . Cũng có thể coi " tâm " là nhân của "tướng" , " tướng " là quả của " tâm "
Về mặt khoa học , trung y cổ đại , sinh lý học hiện đại và tâm lý học đã Phân tích đạo lý tướng do tâm sinh rất đơn giản . Tướng mạo của một người là sự kết hợp giữa " hình " và " thần " . Hình là dung mạo có từ khi sinh ra . Thần thái quyết định bởi quá trình tu dưỡng . Từng ý từng niệm thể hiện trong sinh hoạt thường ngày của mỗi người , qua năm tháng đều ngưng tụ trên gương mặt của họ , gọi là " những gì bên trong sẽ hiện ra bên ngoài " ( hữu chư nội tất hình chư ngoại ) . Tâm niệm nảy sinh sẽ tác động đến thân thể , nếu tâm bình hoà yên tĩnh , lòng thanh thản bao dung quang minh chính đại , thì khí huyết hài hoà , ngũ tạng yên định , thân thể sẽ khoẻ mạnh , nét mặt nhờ đó bình ổn , thần sắc sáng sủa , khiến người khác nhìn vào cảm thấy dễ chịu thoải mái , vì vậy mà việc giao tiếp thân thiện , vui vẻ .
Tuân tử cho rằng " tướng hình không bằng tướng tâm , luận tâm không bằng luận đức "
Trong cuốn sách tướng thuật ảnh hưởng nhất thời cổ đại Thái Thanh Thần Giám bàn về đức như sau :
- " Lấy đức làm đầu , biểu hiện trong hành động " ( vi đức chi tiên , vi hành chi biểu )
- " Đức có trước hình , hình có sau đức " ( đức tại hình tiên , hình cư đức hậu )
- " Bỏ ác theo thiện , trừ nạn tránh hung " ( khứ ứa tùng Thiện , tiêu tai tị hung )
TỪ TƯỚNG BIẾT TÂM , TỪ TÂM BIẾT MỆNH
Khuôn mặt đẹp cũng là một loại phúc báu , dù là phúc báu gì đều có căn nguyên của nó , giống như tài phú đến từ bố thí , tôn quý đến từ khiêm cung , khuôn mặt đẹp đến từ diệu dàng lương thiện , đến trung niên tướng mạo đã đi vào ổn định cũng là thể hiện của tính cách một người , tướng mạo không phải sinh ra là cố định mà nó là phản chiếu của quá trình tu tâm và hành động lâu dài . Cũng vì thế tướng mạo sẽ biểu lộ ra mệnh tương lai của một người
Nửa đời trước là ảnh hưởng từ kiếp trước , nửa đời sau chính là tự mình . Vậy mới nói sau khi đến trung niên cần phải chịu trách nhiệm với hành vi của chính mình . Người có thiện tâm thường từ trong ra ngoài tản mát ra một loại hào quang , thần thái toát lên vẻ an hoà tự tại khiến người gặp gỡ thấy thoải mái ngay cả khi chưa nói chuyện
Mà người ích kỷ , dảo hoạt , so đo rất khó nhìn , thậm chí xấu xí , cho dù may mắn có khuôn mặt đẹp đẽ , người ta thường nói khuôn mặt không có duyên , càng tiếp xúc càng thấy khuôn mặt dẫu đẹp cũng không có cảm tình
LÀM VIỆC THIỆN HAY ÁC ĐỀU HIỂN HIỆN TRÊN TƯỚNG MẠO
Xưa có 2ae sinh đôi là Cao Hiếu Tiêu và Cao Hiếu Tích , cử chỉ lời nói và tài trí đều giống nhau như chỉ là một người , đạo sĩ Trần Hy Di sau khi xem tướng mạo hai người nói rằng " hai người các ngươi có lông mày xanh và đôi mắt đẹp , đều là người có trong danh sách đỗ đạt , huống hồ ánh mắt các ngươi bây giờ màu sắc rực rỡ , tất sẽ đỗ đạt cao " . Đến kỳ thi hương , hai anh em liền cùng nhau vào kinh thành , sống nhờ tại nhà một người thân thích , hàng xóm có một quả phụ trẻ tuổi xinh đẹp, Cao Hiếu Tiêu một lòng dốc lòng cầu học tâm không động , Cao Hiếu Tích không cầm lòng được đến tư thông cùng thiếu phụ kia , sau đó bị người khác phát giác , quả phụ xấu hổ quá nhảy sông . Kỳ thi mùa thu kết thúc , Trần Hy Di nhìn hai người họ kinh ngạc nói : " tứớng mạo 2ae các ngươi thay đổi rất lớn , lông mày Hiếu Tiêu màu tím ánh mắt sáng ngời , nhất định đỗ cao , mà lông mày Hiếu Tích có thay đổi , hai con ngươi phù , sống mũi ngắn mà đen , thần sắc chán nản tiều tuỵ , khí lạnh mà tán , đây nhất định là do làm tổn hại đạo đức mà khiến tướng mạo thay đổi - cuộc thi này chẳng những không đậu ngược lại có dấu hiệu sớm " Sự thật như vậy !
" Nhìn ra tướng mạo một người là dễ dàng ! Nhưng vận mệnh một người lại không dễ mà đoán chuẩn xác được , bởi vì mệnh là đời định , tướng là do hành vi của con người tạo nên . Nếu có thể thuận theo Thiên ý , hoà hợp sự việc với người , ắt đời đời hưng vượng . Đây gọi là phúc hoạ vô môn , duy nhân tự triệu ( phúc hoạ không có cửa , đều do người triệu mời )
TƯỚNG DO TÂM SINH , CẢNH TUỲ TÂM CHUYỂN
Một buổi sáng đi qua công viên gần nha và nhìn thấy những người ngồi thiền định sớm đầu hạ trong veo , mặt hồ ngát hương sen , mùi hoa chớm nở mà còn đẫm hương sương khiến không gian dịu ngot thuần khiết . Tôi nhìn thấy một cô gái thiền định , dáng vẻ cô có gì đó tựa như loài hoa của mùa hè , tôi không biết bằng cách nào và vì sao cô ấy có vẻ đẹp khiến tôi xúc động như thế , đó không phải là vẻ đẹp của dung nhan kiều diễm , cô ngồi thiền định mắt nhắm khẽ nhưng gương mặt và cả thế giới ngồi toả ra ánh sáng của nội tâm , khiến cô như ngồi trong một đài sen và chính cô lại toả ra ánh sáng của tinh thần , từ ánh sáng mà tôi biết là không thể dùng son phấn trang điểm được , về sau tôi biết được rằng lúc đó cô đang tập một bài thiền định của Phật Gia và từ ánh sáng lạ lùng khiến tôi tĩnh lặng không thốt lên khi gặp cô buổi ấy là bởi cô đã không ngừng tu dưỡng bản thân theo nguyên lý Chân Thiện Nhẫn , Chân Thành , Thiện Lương và Dung Nhẫn trong mọi hoàn cảnh với bất kỳ ai cô gặp , người ta là hoa đất , người là tinh hoa của trời đất , tự trong sinh mệnh đã đồng hoá với đặc tính chân thiện nhẫn của vũ trụ khi sinh ra vốn đã bẩm thụ cái linh khí thuần khiết của đất trời , người xưa dạy rằng Hành Thiện có thể thay đổi số mệnh cũng có thể thay đổi tướng mạo của một nguời , bất luận phúc báu nào đều là có căn nguyên tất nhiên của nó , giống như tài phú sẽ đến từ việc năng làm từ thiện , sự tôn quý đến từ sự khiêm nhường , dung mạo xinh đẹp đến từ tính ôn hoà thuần thiện
CON NGƯỜI CÓ THỂ TỰ THAY ĐỔI VẬN MỆNH CỦA MÌNH HAY KHÔNG
Năm xưa , Khổng Tiên Sinh Toán mệnh rằng Viên Hoàng sẽ hết thọ lìa đời ở tuổi 53 , nhưng khi Viên Hoàng tự mình viết lại câu chuyện này ông đã 69 tuổi ( Liễu Phàm Tứ Huấn )
Sinh tử hữu mệnh , phú quý tại Thiên . ( Trong mệnh có thì cuối cùng sẽ có , trong mệnh không có thì cưỡng cầu cũng không được ) Nhưng Đức Năng Thắng Số !!!
" Nguyên nhân nguời phàm khô,ng thể trở thành thánh nhân , đó là luôn nghĩ ngợi không ngừng nghỉ "
Người phàm rất khó buông bỏ tâm truy cầu danh lợi nơi thế gian , cho nên ở trong vô minh ắt khó thoát khỏi số kiếp . Nhưng số kiếp ở thế gian lại chỉ có thể trói buộc người phàm thông thường . Có hai kiểu người nằm ngoài kiếp số , một là loại người đại thiện , còn một loại là kẻ đại gian đại ác . Bởi vì người đại thiện ấy , dù cho trong mệnh của họ có an bài phải chịu khổ , nhưng do làm việc đại thiện , nên sức mạnh của thiện đủ xoay chuyển vận mệnh, người nghèo khó đoản mệnh có thể đến cuối cùng lại phú quý trường thọ . Còn những kẻ cực ác , số kiếp cũng không quản nổi họ . Bởi vì cho dù kẻ đại gian ác có số được hưởng phúc nhưng những việc xấu xa mà họ làm sẽ biến phúc phận thành tai họa . Cũng vậy , vốn có mệnh phú quý trường thọ , đến cuối cùng lại trở thành nghèo khó đoản mệnh .
Thiền sư nói tiếp " Bây giờ có người toán mệnh cho cậu rồi , nhưng nếu cậu sống theo số mệnh đã định ấy , chẳng phải cậu đang nghỉ ngơi trên vòng nguyệt quế hay sao , có gì khác biệt với kẻ phàm phu tục tử . Sao cậy không nghĩ tới việc thay đổi vận mệnh của mình bằng cách tu thiện , tu dưỡng bản thân , nâng cao đạo đức ? "
CẢI BIẾN VẬN MỆNH BẮT ĐẦU TỪ VIỆC TU SỬA BẢN THÂN
Thiền sư : " Cậu nghĩ thử xem , bản thân có số mẹnh đạt công danh hay không , có nên có con trai hay không ? Người giàu có mệnh của người giàu , người chết đói cũng có mệnh phải chết đói , có đức hạnh muôn đời thì sẽ có tử tôn muôn đời , không có hậu duệ là vì đức hạnh ít . Nhân quả báo ứng bao đời , ông Trời an bài không sai một li . Khổng tiên sinh toán mệnh cậu không có công danh , không có con trai , đó là Thiên mệnh . Thế nhưng từ nay về sau cậu bắt đầu tu dưỡng đức hạnh của bản thân , tích nhiều âm đức, tự cậu trồng phúc điền , còn lo không có thu hoạch sao ? "
Trong chu dịch có viết " Tích thiện chi gia , tích hữu dư khánh " ( nhà mà tích thiện thì ắt có phúc dư thừa ) Nếu như vận mệnh không thể cải biến thì sao lại có câu nói này ?
" Trên đầu ba thước có Thần linh " " Mắt thần như điện " " Phúc và hoạ đều từ mình mà ra "
ĐỨC PHẬT DẠY PHƯƠNG PHÁP THAY ĐỔI SỐ PHẬN VÔ CÙNG ĐƠN GIẢN
Một người có lòng cảm ân , họ sẽ có tất cả . Một người không có tâm cảm ân họ sẽ mất tất cả . Phật Pháp chỉ nói tới báo ân mà không giảng báo oán , lấy thiện đãi người mà tích đại đức . Đối với ân huệ của người khác lúc nào cũng phải luôn nhớ rằng " Thụ ân một giọt , báo ân một dòng " Còn đối với thù oán với những thù oán của người khác thì hãy quên nói càng sớm càng tốt , không nên canh cánh trong lòng , ghi hận trong tâm . Bởi vì lợi người cũng là lợi mình , hại người cuối cùng lại là hại mình .
" Mặt trăng quan trọng hơn bởi vì mặt trăng chiếu sáng vào ban đêm , đó là lúc chúng ta cần ánh sáng nhất mà ban ngày đã đủ sáng rồi , mặt trời lại chiếu rọi vào ban ngày "
Cảm ân cũng là một thái độ sống tích cực , giống như có người từng nói , phải biết ơn những người đã làm tổn thương mình , bởi vì nhờ có họ mà ý chí của chúng ta đươc tôi luyện , cảm kích những người đã lừa gạt mình bởi vì họ đã giúp ta có thêm nhiều kinh nghiệm cảm kích những người xem thường mình , bởi vì họ đã giúp ta thức tỉnh...
Phải mang theo một trái tim biết ơn , cảm ơn cuộc đời , cảm ơn tất cả những người đã giúp ta trưởng thành , cảm ơn những gì có ở xung quanh chúng ta .
Để có được tâm cảm ân , chúng ta cần phải dụng tâm đi quan sát, dụng tâm đi cảm nhận . Cỏ cây phát triển mạnh mẽ để báo đáp mặt trời mùa xuân , mạ non lớn lên khoẻ mạnh để cảm tạ sự tươi mát của dòng suối , con trẻ học hành chăm chỉ để báo ơn sự nuôi dưỡng của cha mẹ . Biết ơn cuộc sống , cuộc sống sẽ ban cho bạn ánh mặt trời sáng lạn . Mây cuốn mây bay , hoa nở hoa tàn , đều là những điều đáng giá mà chúng ta nên quý trọng . Cảm ơn mặt trăng cũng càng phải biết cảm ơn mặt trời !
Đúng là khi chúng ta quá tập trung vào những thứ mình chưa có , mải mê theo đuổi kiếm tìm nó mà quên đi mất sự tồn tại của những thứ chúng ta đang có , coi đó là đương nhiên và không có thái độ trân trọng cũng như cảm ơn chúng . Để đến khi đánh mất đi thì mới thấy quý giá muốn tìm lại đôi khi lại không còn nữa . Vì vậy chúng hãy luôn có thái độ tích cực biết cảm ơn tất cả mọi thứ và tất cả mọi thứ xung quanh nhé !
Nhận xét
Đăng nhận xét